buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.25

Kinh Đoạn Trừ Sau Khi Biến Tri

Abhiññāpariññāpahānasutta — bài thứ hai mươi lăm

4 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Đoạn Trừ Sau Khi Biến Tri (Abhiññāpariññāpahānasutta) thêm hai chữ vào bài trước, và hai chữ ấy đổi tất cả.

"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các vị pháp để đoạn trừ tất cả — sau khi thắng tri và biến tri."

Abhiññā là thắng tri: biết vượt lên, biết tận nguồn. Pariññā là biến tri: biết cùng khắp, biết trọn vẹn. Hai chữ gần nhau nhưng không giống nhau — một cái đi sâu, một cái đi rộng.

Điều ấy có nghĩa: buông không phải là bước đầu. Bài trước có thể bị đọc thành "hãy từ bỏ trước, hiểu sau". Bài này sửa lại: hiểu trước, rồi buông — và cái buông ấy sẽ khác hẳn.

Buông một cái mình chưa hiểu là chạy trốn. Buông một cái mình đã hiểu là đặt xuống.

Sự khác nhau ấy không nằm ở hành động, mà ở chỗ người làm có biết tay mình đang cầm cái gì hay không.

Và cũng như bài trước, danh sách vẫn có năm bước cho mỗi cửa — mắt, sắc, thức, xúc, thọ. Chỉ có điều kiện được thêm vào, và điều kiện ấy áp cho cả năm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Tất Cả (Sabbavagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Đoạn Trừ Sau Khi Biến Tri (Abhiññāpariññāpahānasutta) — bài thứ hai mươi lăm.


"Này các tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các vị pháp để đoạn trừ tất cả — sau khi thắng tri và biến tri.

Hãy nghe cho kỹ.

Và này các tỳ-kheo, pháp để đoạn trừ tất cả sau khi thắng tri và biến tri là gì?

Này các tỳ-kheo, mắt phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, các sắc phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, nhãn thức phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, nhãn xúc phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, và cảm thọ do duyên nhãn xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri.

Tai phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, các tiếng phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, nhĩ thức phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, nhĩ xúc phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, và cảm thọ do duyên nhĩ xúc sinh khởi cũng phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri. Mũi phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, các mùi phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, tỷ thức phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, tỷ xúc phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, và cảm thọ do duyên tỷ xúc sinh khởi cũng phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri.

Lưỡi phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, các vị phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, thiệt thức phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, thiệt xúc phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, và cảm thọ do duyên thiệt xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri.

Thân phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, các vật chạm phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, thân thức phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, thân xúc phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, và cảm thọ do duyên thân xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri.

Ý phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, các pháp phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, ý thức phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, ý xúc phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri, và cảm thọ do duyên ý xúc sinh khởi — dù lạc, dù khổ, dù không khổ không lạc — cái ấy cũng phải được đoạn trừ sau khi thắng tri và biến tri.

Này các tỳ-kheo, đấy là pháp để đoạn trừ tất cả sau khi thắng tri và biến tri."

Bài thứ ba.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →