Tương Ưng Bộ · SN 35.185
Kinh Dục Tham Nơi Vô Ngã Ngoại Xứ
Bāhirānattachandādisutta — bài thứ mười tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười chín đóng khối vô ngã ngoại xứ, và nó đóng toàn bộ phần "tính chất" của phẩm.
Này các tỳ-kheo, cái gì là vô ngã thì ở đó dục, tham, dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Mười tám bài đã qua — từ 168 tới 185 — và chúng phủ đúng một bảng: ba tính chất × hai phạm vi × ba chữ.
Mười tám ô. Và đó là con số mà kệ tóm tắt gọi là "với dục là mười tám bài".
Từ bài 186, phẩm đổi trục: không còn dục, tham, dục tham nữa, mà là quá khứ, vị lai, hiện tại.
Và cách nói cũng đổi theo. Không còn "cái gì là vô thường thì buông dục ở đó" — mà là:
Con mắt là vô thường, thuộc quá khứ. Cái tai là vô thường, thuộc quá khứ. Cho tới ý là vô thường, thuộc quá khứ.
Rồi mới tới chuỗi nhàm chán — ly tham — giải thoát — sinh đã tận.
Nghĩa là: từ đây, phẩm thôi ra lệnh và bắt đầu mô tả. Không còn "hãy buông", mà là "đây là cái được thấy, và đây là cái xảy ra khi thấy".
Đó là một sự chuyển giọng, và nó làm phần sau của phẩm dễ đọc hơn phần trước.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Dục Tham Nơi Vô Ngã Ngoại Xứ (Bāhirānattachandādisutta) — bài thứ mười tám.
"Cái gì là vô ngã, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Và cái gì là vô ngã?
Các sắc là vô ngã; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các tiếng là vô ngã; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các mùi là vô ngã; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các vị là vô ngã; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các vật chạm là vô ngã; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Các pháp là vô ngã; ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Cái gì là vô ngã, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.