Tương Ưng Bộ · SN 35.186
Kinh Vô Thường Nơi Quá Khứ Nội Xứ
Ajjhattātītāniccasutta — bài thứ mười chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai mươi mở khối ba thời, và nó là bài đầu tiên của một loạt mười tám bài có cùng một khuôn.
Này các tỳ-kheo, con mắt là vô thường, cái tai là vô thường, cái mũi là vô thường, cái lưỡi là vô thường, cái thân là vô thường và ý là vô thường, tất cả đều thuộc quá khứ.
Rồi:
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, cho tới nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát. Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.
Chuỗi bốn câu này là chuỗi quen nhất của kinh Pali — nó xuất hiện ở hàng trăm bài, trong mọi bộ.
Và điều đáng chú ý ở bài này là đối tượng của nó: cái đã qua.
Vô thường thuộc quá khứ — nghĩa là: cái đã qua đã biến đổi. Đó là điều không cần tin; ai cũng biết.
Nhưng câu ấy vẫn được nói, và được nói đầu tiên. Có lẽ vì cái dễ thấy nhất nên được dùng làm bậc thang cho hai cái khó hơn: vị lai (bài 187) và hiện tại (bài 188).
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Thường Nơi Quá Khứ Nội Xứ (Ajjhattātītāniccasutta) — bài thứ mười chín.
"Này các tỳ-kheo, con mắt là vô thường, cái tai là vô thường, cái mũi là vô thường, cái lưỡi là vô thường, cái thân là vô thường và ý là vô thường, thuộc quá khứ.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.