Tương Ưng Bộ · SN 35.176
Kinh Dục Tham Nơi Vô Ngã Nội Xứ
Anattachandādisutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười đóng khối vô ngã nội xứ, và nó là bài thứ mười của phẩm — một mốc sáu mươi.
Này các tỳ-kheo, cái gì là vô ngã thì ở đó dục của các vị cần được buông bỏ, tham cần được buông bỏ, dục tham cần được buông bỏ.
Rồi lưỡi, rồi ý. Rồi câu kết.
Mười bài đã qua, và cái đã được phủ là: vô thường, khổ, vô ngã × nội xứ × ba chữ.
Còn lại: ba tính chất × ngoại xứ × ba chữ — tức là sáu bài nữa (177–185).
Rồi tới một khối hoàn toàn khác: không còn ba chữ nữa, mà là ba thời — quá khứ, vị lai, hiện tại.
Nghĩa là phẩm này có hai trục: trục tính chất (vô thường, khổ, vô ngã) và trục thời gian. Và nó đi trục thứ nhất trước, rồi trục thứ hai.
Đó là một trật tự có lý: cái gì luôn đúng (tính chất) được nói trước; cái gì đúng ở mọi lúc (thời gian) được nói sau.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Dục Tham Nơi Vô Ngã Nội Xứ (Anattachandādisutta) — bài thứ chín.
"Cái gì là vô ngã, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Và cái gì là vô ngã?
Con mắt là vô ngã; các sắc là vô ngã; nhãn thức là vô ngã; nhãn xúc là vô ngã; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên nhãn xúc, cái ấy cũng là vô ngã.
Ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ. Cũng vậy với cái tai, cái mũi, cái lưỡi và cái thân, cùng các tiếng, mùi, vị, vật chạm, và thức, xúc, thọ của chúng.
Cái lưỡi là vô ngã; các vị là vô ngã; thiệt thức là vô ngã; thiệt xúc là vô ngã; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên thiệt xúc, cái ấy cũng là vô ngã.
Ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Ý là vô ngã; các pháp là vô ngã; ý thức là vô ngã; ý xúc là vô ngã; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên ý xúc, cái ấy cũng là vô ngã.
Ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ.
Cái gì là vô ngã, này các tỳ-kheo, thì ở đó dục tham của các vị cần được buông bỏ."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.