buppou

Tương Ưng Bộ · SN 23.9

Kinh Dục Tham

Chandarāgasutta — bài thứ chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ chín bỏ chuyện phân loại, chuyển sang một mệnh lệnh: hãy đoạn tận dục, tham, hỷ, ái đối với năm uẩn.

Này Rādha, đối với sắc, có dục, có tham, có hỷ, có ái — hãy đoạn tận chúng.

Rồi một hình ảnh quen thuộc trong bộ kinh: như vậy sắc ấy sẽ bị đoạn tận, nhổ tận gốc, làm thành như cây thốt nốt đã bị chặt, làm cho không còn có thể sinh trở lại, không còn sinh khởi trong tương lai.

Cây thốt nốt bị chặt ngang ngọn thì không mọc lại được. Đó là hình ảnh bộ kinh dùng cho một cái đã bị nhổ cả gốc, không chỉ bị cắt phần ngọn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rādha (Rādhasaṃyutta), tương ưng thứ 23.

Phẩm Ma (Paṭhamamāravagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Rādha.

Kinh Dục Tham (Chandarāgasutta) — bài thứ chín.


"Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha được Đức Thế Tôn dạy:

Này Rādha, đối với sắc, có dục, có tham, có hỷ, có ái — hãy đoạn tận chúng.

như vậy sắc ấy sẽ bị đoạn tận, nhổ tận gốc, làm thành như cây thốt nốt đã bị chặt, làm cho không còn có thể sinh trở lại, không còn sinh khởi trong tương lai.

Đối với thọ, có dục, có tham, có hỷ, có ái — hãy đoạn tận chúng.

như vậy thọ ấy sẽ bị đoạn tận, nhổ tận gốc, làm thành như cây thốt nốt đã bị chặt, làm cho không còn có thể sinh trở lại, không còn sinh khởi trong tương lai.

Đối với tưởng, có dục, có tham, có hỷ, có ái — hãy đoạn tận chúng.

Đối với hành, có dục, có tham, có hỷ, có ái — hãy đoạn tận chúng.

như vậy hành ấy sẽ bị đoạn tận, nhổ tận gốc, làm thành như cây thốt nốt đã bị chặt, làm cho không còn có thể sinh trở lại, không còn sinh khởi trong tương lai.

Đối với thức, có dục, có tham, có hỷ, có ái — hãy đoạn tận chúng.

như vậy thức ấy sẽ bị đoạn tận, nhổ tận gốc, làm thành như cây thốt nốt đã bị chặt, làm cho không còn có thể sinh trở lại, không còn sinh khởi trong tương lai."

Bài thứ chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →