buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.129

Kinh Ghosita

Ghositasutta — bài thứ sáu

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ sáu đổi hẳn chủ đề, và nó là một trong những bài kỹ thuật nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.

Ghosita, trưởng giả, hỏi Tôn giả Ānanda:

Bạch Tôn giả, người ta nói "dị giới, dị giới". Đến mức nào thì Đức Thế Tôn nói tới dị giới?

Dhātunānatta — dị giới, sự sai khác của giới. Và câu trả lời là một công thức ba nhân ba:

Nhãn giới có mặt; và có những sắc đáng ưa; và nhãn thức thuộc loại cảm thọ lạc. Do duyên xúc mà lạc thọ sinh khởi.

Rồi ba lần cho mỗi cửa: đáng ưa → lạc, không đáng ưa → khổ, chỗ của xả → không khổ không lạc.

Ba cảnh, ba thức, ba thọ. Và cả ba đều có mặt cùng một lúc — không phải ba giai đoạn, mà ba khả năng luôn sẵn.

Đó là điều mà chữ nānatta muốn nói: không phải "nhiều thế giới", mà sự khác nhau trong cùng một chỗ. Cùng một con mắt, cùng một lúc, có thể sinh ra lạc, khổ, hay xả — tùy cảnh.

Và câu kết: "đến mức ấy thì Đức Thế Tôn nói tới dị giới."

Bài này không nói gì về tu tập. Nó chỉ đặt tên. Nhưng nó là nền cho bài sau, và bài sau mới là chỗ dùng.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Gia Chủ (Gahapativagga) — phẩm thứ ba của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Ghosita (Ghositasutta) — bài thứ sáu.


"Một thuở nọ, Tôn giả Ānanda trú tại Kosambī, trong vườn Ghositārāma.

Rồi Ghosita, trưởng giả, đi đến chỗ Tôn giả Ānanda, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Ghosita nói với Tôn giả Ānanda rằng:

Bạch Tôn giả Ānanda, người ta nói “dị giới, dị giới”.

Bạch Tôn giả, đến mức nào thì Đức Thế Tôn nói tới dị giới?

Này trưởng giả, nhãn giới có mặt; và có những sắc đáng ưa; và nhãn thức thuộc loại cảm thọ lạc.

Do duyên xúc mà lạc thọ sinh khởi.

Này trưởng giả, nhãn giới có mặt; và có những sắc không đáng ưa; và nhãn thức thuộc loại cảm thọ khổ.

Do duyên xúc mà khổ thọ sinh khởi.

Này trưởng giả, nhãn giới có mặt; và có những sắc thuộc loại cảm thọ xả; và nhãn thức thuộc loại cảm thọ không khổ không lạc.

Do duyên xúc mà thọ không khổ không lạc sinh khởi. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Này trưởng giả, thiệt giới có mặt; và có những vị đáng ưa; và thiệt thức thuộc loại cảm thọ lạc.

Do duyên xúc mà lạc thọ sinh khởi.

Này trưởng giả, thiệt giới có mặt; và có những vị không đáng ưa; và thiệt thức thuộc loại cảm thọ khổ.

Do duyên xúc mà khổ thọ sinh khởi.

Này trưởng giả, thiệt giới có mặt; và có những vị thuộc loại cảm thọ xả; và thiệt thức thuộc loại cảm thọ không khổ không lạc.

Do duyên xúc mà thọ không khổ không lạc sinh khởi. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Này trưởng giả, ý giới có mặt; và có những pháp đáng ưa; và ý thức thuộc loại cảm thọ lạc.

Do duyên xúc mà lạc thọ sinh khởi.

Này trưởng giả, ý giới có mặt; và có những pháp không đáng ưa; và ý thức thuộc loại cảm thọ khổ.

Do duyên xúc mà khổ thọ sinh khởi.

Này trưởng giả, ý giới có mặt; và có những pháp thuộc loại cảm thọ xả; và ý thức thuộc loại cảm thọ không khổ không lạc.

Do duyên xúc mà thọ không khổ không lạc sinh khởi.

Này trưởng giả, đến mức ấy thì Đức Thế Tôn nói tới dị giới."

Bài thứ sáu.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →