buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.121

Kinh Giáo Huấn Rāhula

Rāhulovādasutta — bài thứ tám

8 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ tám là bài dành cho Rāhula — con trai Đức Thế Tôn — và nó là một trong những bài cảm động nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.

Mở đầu: Đức Thế Tôn đang tĩnh cư, và Ngài nghĩ:

Các pháp làm chín muồi sự giải thoát nơi Rāhula đã chín muồi rồi; vậy Ta hãy dẫn dắt Rāhula đi xa hơn nữa, tới sự đoạn tận các lậu hoặc.

Chữ paripakkā — chín muồi — là một chữ rất đẹp trong ngữ cảnh này. Nó là chữ dùng cho trái cây. Người cha thấy con mình đã chín, và biết đã tới lúc.

Rồi một chi tiết nhỏ mà tôi rất thích:

Này Rāhula, hãy lấy tọa cụ. Chúng ta sẽ đi đến rừng Andha để nghỉ trưa.

Một ông bố rủ con trai đi nghỉ trưa. Và dọc đường có nhiều ngàn vị trời đi theo, vì họ biết hôm nay sẽ có chuyện lớn.

Rồi dưới gốc cây, Đức Thế Tôn hỏi Rāhula khung hỏi đáp quen thuộc — mắt thường hay vô thường — và đi qua tất cả sáu cửa, mỗi cửa bốn thứ: xứ, cảnh, thức, xúc.

Nhưng có một chỗ khác các bài trước, và nó là chỗ quan trọng nhất. Sau xúc, bài này hỏi thêm:

Cảm thọ, tưởng, hành, thức do nhãn xúc sinh khởi — cái ấy là thường hay vô thường?

Bốn uẩn còn lại. Các bài khác chỉ hỏi tới cảm thọ; bài này hỏi tới toàn bộ bốn uẩn tâm.

Đó là lý do bài này dài và kỹ: nó là bài dạy cuối cùng cho một người sắp chứng quả.

Và cái kết — đây là chỗ mà bài này khác mọi bài khác:

Và trong khi bài giảng này đang được nói, tâm của Tôn giả Rāhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ. Và nơi nhiều ngàn vị trời, pháp nhãn trong sạch, không còn bụi bặm, khởi lên: "Cái gì là pháp sinh khởi thì tất cả cái ấy là pháp chấm dứt."

Người cha dạy con xong, và người con chứng quả ngay trong lúc nghe. Cùng lúc ấy, nhiều ngàn vị trời mở được pháp nhãn.

Bài này là bài duy nhất trong Tương Ưng Sáu Xứ mà hai kết quả xảy ra cùng lúc, và nó xảy ra trong một buổi nghỉ trưa dưới gốc cây, giữa hai cha con.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Dục Công Đức Của Thế Giới (Lokakāmaguṇavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Giáo Huấn Rāhula (Rāhulovādasutta) — bài thứ tám.


"Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jeta, tại tịnh xá của Anāthapiṇḍika.

Rồi Đức Thế Tôn, khi sống riêng một mình, tĩnh cư, khởi lên ý nghĩ này trong tâm:

Các pháp làm chín muồi sự giải thoát nơi Rāhula đã chín muồi rồi;

vậy Ta hãy dẫn dắt Rāhula đi xa hơn nữa, tới sự đoạn tận các lậu hoặc.

Rồi Đức Thế Tôn vào buổi sáng, sau khi mặc y, mang bát, đi vào Sāvatthī để khất thực.

Sau khi ăn xong, trên đường trở về, Ngài gọi Tôn giả Rāhula:

Này Rāhula, hãy lấy tọa cụ.

Chúng ta sẽ đi đến rừng Andha để nghỉ trưa.

Thưa vâng, bạch Thế Tôn. Tôn giả Rāhula vâng lời Đức Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau Ngài.

Lúc ấy, có nhiều ngàn vị trời đi theo Đức Thế Tôn, nghĩ rằng:

Hôm nay Đức Thế Tôn sẽ dẫn dắt Tôn giả Rāhula đi xa hơn nữa, tới sự đoạn tận các lậu hoặc.

Rồi Đức Thế Tôn đi vào rừng Andha, ngồi xuống chỗ đã được sửa soạn dưới một gốc cây.

Tôn giả Rāhula cũng đảnh lễ Đức Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi một bên, Tôn giả Rāhula được Đức Thế Tôn dạy rằng:

Này Rāhula, ngươi nghĩ thế nào:

con mắt là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường.

Và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?

Bạch Thế Tôn, là khổ.

Và cái gì vô thường, khổ, là pháp biến đổi — có hợp lý không khi nhìn nó như vầy:

'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?

Bạch Thế Tôn, không phải vậy.

Các sắc là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Nhãn thức là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Nhãn xúc là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Cảm thọ, tưởng, hành, thức do nhãn xúc sinh khởi — cái ấy là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường.

Và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?

Bạch Thế Tôn, là khổ.

Và cái gì vô thường, khổ, là pháp biến đổi — có hợp lý không khi nhìn nó như vầy:

'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?

Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Cái lưỡi là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Thiệt thức là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Thiệt xúc là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Cảm thọ, tưởng, hành, thức do thiệt xúc sinh khởi — cái ấy là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường.

Và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?

Bạch Thế Tôn, là khổ.

Và cái gì vô thường, khổ, là pháp biến đổi — có hợp lý không khi nhìn nó như vầy:

'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?

Bạch Thế Tôn, không phải vậy. Cũng vậy với thân.

Ý là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường.

Và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?

Bạch Thế Tôn, là khổ.

Và cái gì vô thường, khổ, là pháp biến đổi — có hợp lý không khi nhìn nó như vầy:

'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?

Bạch Thế Tôn, không phải vậy.

Các pháp là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Ý thức là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Ý xúc là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường; và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ; và không hợp lý khi nhìn nó là tự ngã.

Cảm thọ, tưởng, hành, thức do ý xúc sinh khởi — cái ấy là thường hay vô thường?

Bạch Thế Tôn, là vô thường.

Và cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc?

Bạch Thế Tôn, là khổ.

Và cái gì vô thường, khổ, là pháp biến đổi — có hợp lý không khi nhìn nó như vầy:

'Đây là của tôi, đây là tôi, đây là tự ngã của tôi'?

Bạch Thế Tôn, không phải vậy.

Thấy vậy, này Rāhula, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc.

Và nhàm chán đối với cái lưỡi, đối với các vị, đối với thiệt thức, đối với thiệt xúc, đối với cảm thọ, tưởng, hành, thức do thiệt xúc sinh khởi. Cũng vậy với tai, mũi, thân.

Vị ấy cũng nhàm chán đối với ý, đối với các pháp, đối với ý thức, đối với ý xúc, đối với cảm thọ, tưởng, hành, thức do ý xúc sinh khởi.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.'

'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.' Vị ấy biết như vậy.

Đức Thế Tôn nói như vậy.

Tôn giả Rāhula hoan hỷ, tán thán lời Đức Thế Tôn dạy.

Và trong khi bài giảng này đang được nói, tâm của Tôn giả Rāhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không còn chấp thủ.

Và nơi nhiều ngàn vị trời, pháp nhãn trong sạch, không còn bụi bặm, khởi lên:

Cái gì là pháp sinh khởi thì tất cả cái ấy là pháp chấm dứt."

Bài thứ tám.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →