Tương Ưng Bộ · SN 41.7
Kinh Godatta
Godattasutta — bài thứ bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ bảy là bài của bốn tâm giải thoát — và nó là một trong những bài sâu nhất của Tương Ưng Bộ về cách nói.
Tôn giả Godatta hỏi:
"Này gia chủ, tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát vô sở hữu, tâm giải thoát không, tâm giải thoát vô tướng — những pháp này khác nghĩa và khác chữ, hay đồng nghĩa và chỉ khác chữ?"
Và câu trả lời của Citta là một câu trả lời hai mặt — và đây là chỗ tôi muốn dừng:
"Bạch Tôn giả, có một cách nói mà theo đó, những pháp này khác nghĩa và khác chữ. Nhưng bạch Tôn giả, cũng có một cách nói mà theo đó, những pháp này đồng nghĩa và chỉ khác chữ."
Không phải "khác". Không phải "giống". Mà là: tùy cách nói.
Đó là một câu trả lời rất hiếm trong kinh điển, và nó chính xác về mặt phương pháp: hai cách nói ấy không mâu thuẫn, vì chúng đang nói về hai thứ khác nhau — một cách nói về cái cửa để vào, một cách nói về cái đích khi đã vào.
Cách thứ nhất — bốn cửa khác nhau:
| Tâm giải thoát | Cửa vào |
|---|---|
| vô sở hữu | vượt thức vô biên xứ, "không có gì cả" |
| không | vào rừng, gốc cây, chỗ trống, quán "cái này trống không, không có ngã" |
| vô tướng | không tác ý đến tất cả các tướng |
Bốn cửa, bốn cách vào, bốn tên. Rõ ràng là khác.
Cách thứ hai — và đây là chỗ hay nhất:
"Bạch Tôn giả, tham là cái làm ra lượng, sân là cái làm ra lượng, si là cái làm ra lượng." "Tham là cái gì đó, sân là cái gì đó, si là cái gì đó." "Tham là cái làm ra tướng, sân là cái làm ra tướng, si là cái làm ra tướng."
Ba lần, cùng một cấu trúc. Và mỗi lần, câu kết giống nhau:
Trong tất cả các tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát bất động được nói là tối thượng. Và tâm giải thoát bất động ấy trống không tham, trống không sân, trống không si.
Đó là câu trả lời: bốn cái tên ấy khác nhau ở cửa vào, nhưng giống nhau ở chỗ đích — cái đích là cái tâm bất động, và cái tâm ấy trống không tham sân si.
Và như vậy, cả bốn đều là "không", cả bốn đều là "vô tướng", cả bốn đều là "vô lượng", cả bốn đều là "vô sở hữu" — khi đã tới.
Tham làm ra lượng. Tham làm ra cái gì đó. Tham làm ra tướng. Bỏ tham thì cả ba cái tên đều mất chỗ dựa.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Citta (Cittasaṃyutta), tương ưng thứ 41.
Phẩm Citta (Cittavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Citta.
Kinh Godatta (Godattasutta) — bài thứ bảy.
"Một thời, Tôn giả Godatta trú ở Macchikāsaṇḍa, tại rừng Xoài Dại.
Rồi, gia chủ Citta đi đến chỗ Tôn giả Godatta; đến rồi, sau khi đảnh lễ Tôn giả Godatta, ngồi xuống một bên. Tôn giả Godatta nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên rằng:
Này gia chủ, tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát vô sở hữu, tâm giải thoát không, tâm giải thoát vô tướng — những pháp này khác nghĩa và khác chữ, hay đồng nghĩa và chỉ khác chữ?
Bạch Tôn giả, có một cách nói mà theo đó, những pháp này khác nghĩa và khác chữ.
Nhưng bạch Tôn giả, cũng có một cách nói mà theo đó, những pháp này đồng nghĩa và chỉ khác chữ.
Bạch Tôn giả, thế nào là cách nói mà theo đó, những pháp này khác nghĩa và khác chữ?
Ở đây, bạch Tôn giả, một tỳ-kheo trú với tâm câu hữu với từ, trải khắp một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả, với mọi loài, trải khắp toàn thế giới bằng tâm câu hữu với từ — rộng lớn, cao cả, vô lượng, không hận, không não hại.
Với tâm câu hữu với bi, trải khắp một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả, với mọi loài, trải khắp toàn thế giới bằng tâm câu hữu với bi — rộng lớn, cao cả, vô lượng, không hận, không não hại.
Với tâm câu hữu với hỷ, trải khắp một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả, với mọi loài, trải khắp toàn thế giới bằng tâm câu hữu với hỷ — rộng lớn, cao cả, vô lượng, không hận, không não hại.
Với tâm câu hữu với xả, trải khắp một phương; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, trên, dưới, ngang, khắp mọi nơi, với tất cả, với mọi loài, trải khắp toàn thế giới bằng tâm câu hữu với xả — rộng lớn, cao cả, vô lượng, không hận, không não hại.
Bạch Tôn giả, ấy được gọi là tâm giải thoát vô lượng.
Và bạch Tôn giả, thế nào là tâm giải thoát vô sở hữu?
Ở đây, bạch Tôn giả, một tỳ-kheo sau khi vượt qua hoàn toàn thức vô biên xứ, chứng và trú vô sở hữu xứ với ý niệm không có gì cả.
Bạch Tôn giả, ấy được gọi là tâm giải thoát vô sở hữu.
Và bạch Tôn giả, thế nào là tâm giải thoát không?
Ở đây, bạch Tôn giả, một tỳ-kheo đi vào rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ trống vắng, và quán xét như vầy:
Cái này trống không, không có ngã, không có gì thuộc về ngã.
Bạch Tôn giả, ấy được gọi là tâm giải thoát không.
Và bạch Tôn giả, thế nào là tâm giải thoát vô tướng?
Ở đây, bạch Tôn giả, một tỳ-kheo sau khi không tác ý đến tất cả các tướng, chứng và trú định vô tướng.
Bạch Tôn giả, ấy được gọi là tâm giải thoát vô tướng.
Bạch Tôn giả, ấy là cách nói mà theo đó, những pháp này khác nghĩa và khác chữ.
Và bạch Tôn giả, thế nào là cách nói mà theo đó, những pháp này đồng nghĩa và chỉ khác chữ?
Bạch Tôn giả, tham là cái làm ra lượng, sân là cái làm ra lượng, si là cái làm ra lượng.
Những cái ấy nơi một tỳ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc đã được bỏ, đã bị cắt tận gốc, đã bị làm cho như cây thốt nốt bị chặt, đã bị làm cho không còn tồn tại, không còn sinh khởi trong tương lai.
Bạch Tôn giả, trong tất cả các tâm giải thoát vô lượng, tâm giải thoát bất động được nói là tối thượng.
Và tâm giải thoát bất động ấy trống không tham, trống không sân, trống không si.
Bạch Tôn giả, tham là cái gì đó, sân là cái gì đó, si là cái gì đó.
Những cái ấy nơi một tỳ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc đã được bỏ, đã bị cắt tận gốc, đã bị làm cho như cây thốt nốt bị chặt, đã bị làm cho không còn tồn tại, không còn sinh khởi trong tương lai.
Bạch Tôn giả, trong tất cả các tâm giải thoát vô sở hữu, tâm giải thoát bất động được nói là tối thượng.
Và tâm giải thoát bất động ấy trống không tham, trống không sân, trống không si.
Bạch Tôn giả, tham là cái làm ra tướng, sân là cái làm ra tướng, si là cái làm ra tướng.
Những cái ấy nơi một tỳ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc đã được bỏ, đã bị cắt tận gốc, đã bị làm cho như cây thốt nốt bị chặt, đã bị làm cho không còn tồn tại, không còn sinh khởi trong tương lai.
Bạch Tôn giả, trong tất cả các tâm giải thoát vô tướng, tâm giải thoát bất động được nói là tối thượng.
Và tâm giải thoát bất động ấy trống không tham, trống không sân, trống không si.
Bạch Tôn giả, ấy là cách nói mà theo đó, những pháp này đồng nghĩa và chỉ khác chữ.
Thật là lợi ích cho ông, này gia chủ; thật là khéo được cho ông, này gia chủ.
Khi mà con mắt trí tuệ của ông đi được vào lời dạy sâu xa của Đức Phật.**"
Bài thứ bảy.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.