Tương Ưng Bộ · SN 12.10
Kinh Gotama
Gotamasutta — bài thứ mười
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Gotama (Gotamasutta) là bài cuối phẩm Đức Phật — và là bài duy nhất trong phẩm kể chuyện chính Đức Thế Tôn tìm ra chuỗi này.
Này các tỳ-kheo, trước khi giác ngộ, khi Ta còn là bồ-tát chưa chứng giác ngộ, Ta đã khởi lên ý nghĩ như vầy: "Thật khổ thay, đời này đã rơi vào cảnh khốn khó: nó sinh, nó già, nó chết, nó qua đời, nó tái sinh, mà nó không biết lối thoát."
Cùng câu hỏi, cùng lối đi ngược, cùng khoảnh khắc "sinh khởi, sinh khởi", cùng khoảnh khắc "chấm dứt, chấm dứt" — như bài Vipassī, chỉ đổi ngôi: "Ta".
Nhưng có một chỗ khác, và nó rất nhỏ. Ở bài Vipassī, mỗi bước là một câu hỏi riêng, đủ bốn dòng. Ở bài này, mười bước giữa bị nén lại thành một dòng mỗi bước:
"Khi cái gì có mặt thì hữu có mặt? Hữu do duyên gì?" — "Khi cái gì có mặt thì thủ có mặt? Thủ do duyên gì?" — "Khi cái gì có mặt thì ái có mặt? Ái do duyên gì?"
Đó là dấu vết của một bản truyền tụng đã nhớ thuộc lòng và bắt đầu viết tắt. Và chính chỗ viết tắt ấy lại cho thấy điều quan trọng: người đọc thuộc bản này biết quá rõ phần bị lược, đến mức không cần viết ra.
Bài khép lại bằng bài kệ tóm tắt phẩm, bốn dòng, liệt kê mười bài vừa đọc:
Giảng dạy, phân tích, thực hành, / Vipassī, Sikhī và Vessabhū; / Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa, / và Đại Thích-ca Mâu-ni, tức Gotama.
Một phẩm kinh mười bài, và nó khép lại bằng cách gọi tên cả bảy vị Phật — như để nói rằng con đường này không bắt đầu từ hôm nay.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Đức Phật (Buddhavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Gotama (Gotamasutta) — bài thứ mười.
"Này các tỳ-kheo, trước khi giác ngộ, khi Ta còn là bồ-tát chưa chứng giác ngộ, Ta đã khởi lên ý nghĩ như vầy:
'Thật khổ thay, đời này đã rơi vào cảnh khốn khó: nó sinh, nó già, nó chết, nó qua đời, nó tái sinh,
mà nó không biết lối thoát khỏi khổ này, khỏi già và chết.
Bao giờ cho đến khi lối thoát khỏi khổ này, khỏi già và chết, được tìm ra?'
Rồi này các tỳ-kheo, Ta nghĩ rằng:
'Khi cái gì có mặt thì già chết có mặt? Già chết do duyên gì?'
Rồi này các tỳ-kheo, do tác ý đúng lý, Ta chứng ngộ bằng trí tuệ:
'Khi sinh có mặt thì già chết có mặt; già chết do duyên sinh.'
Rồi này các tỳ-kheo, Ta nghĩ rằng:
'Khi cái gì có mặt thì sinh có mặt? Sinh do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì hữu có mặt? hữu do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì thủ có mặt? thủ do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì ái có mặt? ái do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì thọ có mặt? thọ do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì xúc có mặt? xúc do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì sáu xứ có mặt? sáu xứ do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì danh sắc có mặt? danh sắc do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì thức có mặt? thức do duyên gì?'
'Khi cái gì có mặt thì hành có mặt? Hành do duyên gì?'
Rồi này các tỳ-kheo, do tác ý đúng lý, Ta chứng ngộ bằng trí tuệ:
'Khi vô minh có mặt thì hành có mặt; hành do duyên vô minh.'
Như vậy, vô minh duyên hành;
hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sinh; sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.
'Sinh khởi, sinh khởi' — này các tỳ-kheo, nơi Ta, đối với những pháp chưa từng nghe trước đây, con mắt đã khởi lên, tri kiến đã khởi lên, trí tuệ đã khởi lên, minh đã khởi lên, ánh sáng đã khởi lên.
Rồi này các tỳ-kheo, Ta nghĩ rằng:
'Khi cái gì không có mặt thì già chết không có mặt? Cái gì chấm dứt thì già chết chấm dứt?'
Rồi này các tỳ-kheo, do tác ý đúng lý, Ta chứng ngộ bằng trí tuệ:
'Khi sinh không có mặt thì già chết không có mặt; khi sinh chấm dứt thì già chết chấm dứt.'
Rồi này các tỳ-kheo, Ta nghĩ rằng:
'Khi cái gì không có mặt thì sinh không có mặt? Cái gì chấm dứt thì sinh chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì hữu không có mặt? Cái gì chấm dứt thì hữu chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì thủ không có mặt? Cái gì chấm dứt thì thủ chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì ái không có mặt? Cái gì chấm dứt thì ái chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì thọ không có mặt? Cái gì chấm dứt thì thọ chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì xúc không có mặt? Cái gì chấm dứt thì xúc chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì sáu xứ không có mặt? Cái gì chấm dứt thì sáu xứ chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì danh sắc không có mặt? Cái gì chấm dứt thì danh sắc chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì thức không có mặt? Cái gì chấm dứt thì thức chấm dứt?'
'Khi cái gì không có mặt thì hành không có mặt? Cái gì chấm dứt thì hành chấm dứt?'
Rồi này các tỳ-kheo, do tác ý đúng lý, Ta chứng ngộ bằng trí tuệ:
'Khi vô minh không có mặt thì hành không có mặt; khi vô minh chấm dứt thì hành chấm dứt.'
Như vậy, do vô minh chấm dứt nên hành chấm dứt;
hành chấm dứt nên thức chấm dứt; thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt; danh sắc chấm dứt nên sáu xứ chấm dứt; sáu xứ chấm dứt nên xúc chấm dứt; xúc chấm dứt nên thọ chấm dứt; thọ chấm dứt nên ái chấm dứt; ái chấm dứt nên thủ chấm dứt; thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.
Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.
'Chấm dứt, chấm dứt' — này các tỳ-kheo, nơi Ta, đối với những pháp chưa từng nghe trước đây, con mắt đã khởi lên, tri kiến đã khởi lên, trí tuệ đã khởi lên, minh đã khởi lên, ánh sáng đã khởi lên."
Kinh Gotama, bài thứ mười, đến đây là hết.
Phẩm Đức Phật, phẩm thứ nhất, đến đây là hết.
Kệ tóm tắt phẩm:
Giảng dạy, phân tích, thực hành,
Vipassī, Sikhī và Vessabhū;
Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa,
và Đại Thích-ca Mâu-ni, tức Gotama.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.