buppou

Tương Ưng Bộ · SN 12.11

Kinh Thức Ăn

Āhārasutta — bài thứ nhất

5 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Thức Ăn (Āhārasutta) mở phẩm thứ hai — và nó bắt đầu bằng một chữ mà ai cũng tưởng mình hiểu: thức ăn.

Này các tỳ-kheo, có bốn loại thức ăn để duy trì các chúng sinh đã sinh và hỗ trợ những chúng sinh đang tìm chỗ sinh.

Không phải một. Bốn:

Thức ăn vật chất, thô hay tế; xúc là thứ hai; tư niệm là thứ ba; thức là thứ tư.

Đó là một trong những chỗ mở rộng đáng kinh ngạc nhất của bộ kinh: cái mà mắt chạm vào, cái mà ý muốn, và cái đang biết — cả ba đều là thức ăn. Người ta không chỉ ăn cơm. Người ta ăn cả việc được nhìn, được nghe, được chạm; ăn cả ý định của mình; ăn cả chính sự biết của mình.

Rồi bài hỏi ngược, đúng lối duyên khởi: bốn món ấy lấy gì làm nguồn? — Ái. Ái lấy gì? — Thọ. Thọ lấy gì? — Xúc. Và cứ thế lùi, từng bước, về đến vô minh.

Câu hỏi ở mỗi bước không phải "cái gì sinh ra nó", mà là bốn chữ cùng nghĩa: lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có. Bốn cách nói một điều, lặp lại mười bốn lần — một nhịp của người tụng kinh, và cũng là một cách để câu hỏi thấm vào người nghe.

Bài khép lại bằng cả hai chiều, gọn: sinh khởi, rồi chấm dứt. Nhưng lần này, chuỗi ấy được nhìn từ cái đang được ăn mỗi ngày.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.

Phẩm Thức Ăn (Āhāravagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Nhân Duyên.

Kinh Thức Ăn (Āhārasutta) — bài thứ nhất.


Tôi nghe như vầy:

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī, trong rừng Jeta, khu vườn của Anāthapiṇḍika.

"Này các tỳ-kheo, có bốn loại thức ăn để duy trì các chúng sinh đã sinh và hỗ trợ những chúng sinh đang tìm chỗ sinh.

Bốn loại ấy là gì?

Thức ăn vật chất, thô hay tế; xúc là thứ hai; tư niệm là thứ ba; thức là thứ tư.

Này các tỳ-kheo, đó là bốn loại thức ăn để duy trì các chúng sinh đã sinh và hỗ trợ những chúng sinh đang tìm chỗ sinh.

Này các tỳ-kheo, bốn loại thức ăn này lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có?

Bốn loại thức ăn này lấy ái làm nguồn gốc, lấy ái làm tập khởi, do ái mà sinh, do ái mà có.

Này các tỳ-kheo, ái này lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có?

Ái lấy thọ làm nguồn gốc, lấy thọ làm tập khởi, do thọ mà sinh, do thọ mà có.

Này các tỳ-kheo, thọ này lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có?

Thọ lấy xúc làm nguồn gốc, lấy xúc làm tập khởi, do xúc mà sinh, do xúc mà có.

Này các tỳ-kheo, xúc này lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có?

Xúc lấy sáu xứ làm nguồn gốc, lấy sáu xứ làm tập khởi, do sáu xứ mà sinh, do sáu xứ mà có.

Này các tỳ-kheo, sáu xứ này lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có?

Sáu xứ lấy danh sắc làm nguồn gốc, lấy danh sắc làm tập khởi, do danh sắc mà sinh, do danh sắc mà có.

Này các tỳ-kheo, danh sắc này lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có?

Danh sắc lấy thức làm nguồn gốc, lấy thức làm tập khởi, do thức mà sinh, do thức mà có.

Này các tỳ-kheo, thức này lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có?

Thức lấy hành làm nguồn gốc, lấy hành làm tập khởi, do hành mà sinh, do hành mà có.

Này các tỳ-kheo, các hành này lấy gì làm nguồn gốc, lấy gì làm tập khởi, do gì mà sinh, do gì mà có?

Các hành lấy vô minh làm nguồn gốc, lấy vô minh làm tập khởi, do vô minh mà sinh, do vô minh mà có.

Như vậy, này các tỳ-kheo, vô minh duyên hành;

hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sinh; sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.

Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.

Nhưng do sự ly tham và chấm dứt vô minh không còn dư tàn, hành chấm dứt;

hành chấm dứt nên thức chấm dứt; thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt; danh sắc chấm dứt nên sáu xứ chấm dứt; sáu xứ chấm dứt nên xúc chấm dứt; xúc chấm dứt nên thọ chấm dứt; thọ chấm dứt nên ái chấm dứt; ái chấm dứt nên thủ chấm dứt; thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.

Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này."

Kinh Thức Ăn, bài thứ nhất, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →