Tương Ưng Bộ · SN 15.12
Kinh Hạnh Phúc
Sukhitasutta — bài thứ mười hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này là cặp đối của bài trước — cùng một cấu trúc, đổi một từ.
Này các tỳ-kheo, khi các ông thấy một người hạnh phúc, sung túc, thì hãy đi đến kết luận như vầy: chúng ta cũng đã từng cảm thọ những điều như vậy trong thời gian dài này.
Đặt hai bài cạnh nhau, bộ kinh nói một điều mà một bài không nói được: cái nhìn ấy phải áp dụng cho cả hai phía. Người khổ không phải kẻ xa lạ, và người sang cũng không phải kẻ may mắn hơn mình.
Cái làm cho bài này khó hơn bài trước là ở chỗ nó không có gì để cảm thông. Nó chỉ có một lời nhắc: cái này cũng đã từng là của tôi.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Không Có Khởi Đầu (Anamataggasaṃyutta), tương ưng thứ 15.
Phẩm Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Không Có Khởi Đầu.
Kinh Hạnh Phúc (Sukhitasutta) — bài thứ mười hai.
"Tại Sāvatthī.
Vòng luân hồi này, này các tỳ-kheo, là không có khởi đầu có thể tìm ra. Không tìm ra được điểm khởi đầu của những chúng sinh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, chạy vòng và luân hồi.
Này các tỳ-kheo, khi các ông thấy một người hạnh phúc, sung túc, thì hãy đi đến kết luận như vầy:
Chúng ta cũng đã từng cảm thọ những điều như vậy trong thời gian dài này.
Vì sao thế?
Vòng luân hồi này, này các tỳ-kheo, là không có khởi đầu có thể tìm ra.
Không tìm ra được điểm khởi đầu của những chúng sinh bị vô minh che lấp, bị ái trói buộc, chạy vòng và luân hồi.
Và chừng ấy, này các tỳ-kheo, đã đủ để nhàm chán tất cả các hành, đủ để ly tham, đủ để giải thoát."
Bài thứ hai.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.