Tương Ưng Bộ · SN 35.19
Kinh Hoan Hỷ (I)
Paṭhamābhinandasutta — bài thứ mười chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Hoan Hỷ (I) (Paṭhamābhinandasutta) là bài ngắn nhất và sắc nhất của phẩm — và nó có một lập luận chỉ gồm hai câu.
"Này các tỳ-kheo, ai hoan hỷ với mắt, người ấy hoan hỷ với khổ. Ai hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy chưa được giải thoát khỏi khổ."
Đây là một trong những chỗ mà kinh Pali nói thẳng đến mức gây sốc. Không có "nếu", không có "có thể". Chỉ có: hoan hỷ với mắt là hoan hỷ với khổ.
Tại sao? Vì mắt là khổ theo nghĩa đã nói ở phẩm trước — cái gì vô thường thì không giữ được, và cái không giữ được thì không thể là chỗ vui. Hoan hỷ với một cái như vậy là đặt niềm vui vào chỗ đang mất.
Nhưng câu thứ hai mới là chỗ đáng dừng. Kinh không nói "người ấy là người xấu". Kinh nói: người ấy chưa được giải thoát. Đó là một mô tả, không phải một kết án — và nó để ngỏ rằng chuyện vẫn còn làm được.
Nửa sau của bài lật lại: không hoan hỷ thì đã được giải thoát. Hai câu, hai chiều, và giữa chúng không có bậc thang nào.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Cặp Đôi (Yamakavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Hoan Hỷ (I) (Paṭhamābhinandasutta) — bài thứ mười chín.
"Này các tỳ-kheo, ai hoan hỷ với mắt, người ấy hoan hỷ với khổ.
Ai hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy chưa được giải thoát khỏi khổ.
Ai hoan hỷ với tai, người ấy hoan hỷ với khổ. Ai hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy chưa được giải thoát khỏi khổ.
Ai hoan hỷ với mũi, người ấy hoan hỷ với khổ. Ai hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy chưa được giải thoát khỏi khổ.
Ai hoan hỷ với lưỡi, người ấy hoan hỷ với khổ.
Ai hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy chưa được giải thoát khỏi khổ.
Ai hoan hỷ với thân, người ấy hoan hỷ với khổ. Ai hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy chưa được giải thoát khỏi khổ.
Ai hoan hỷ với ý, người ấy hoan hỷ với khổ.
Ai hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy chưa được giải thoát khỏi khổ.
Này các tỳ-kheo, ai không hoan hỷ với mắt, người ấy không hoan hỷ với khổ.
Ai không hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy đã được giải thoát khỏi khổ.
Ai không hoan hỷ với tai, người ấy không hoan hỷ với khổ. Ai không hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy đã được giải thoát khỏi khổ.
Ai không hoan hỷ với mũi, người ấy không hoan hỷ với khổ. Ai không hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy đã được giải thoát khỏi khổ.
Ai không hoan hỷ với lưỡi, người ấy không hoan hỷ với khổ.
Ai không hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy đã được giải thoát khỏi khổ.
Ai không hoan hỷ với thân, người ấy không hoan hỷ với khổ. Ai không hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy đã được giải thoát khỏi khổ.
Ai không hoan hỷ với ý, người ấy không hoan hỷ với khổ.
Ai không hoan hỷ với khổ, Ta nói người ấy đã được giải thoát khỏi khổ."
Bài thứ bảy.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.