Tương Ưng Bộ · SN 14.35
Kinh Hoan Hỷ
Abhinandasutta — bài thứ ba mươi lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ ba mươi lăm nói cùng một điều ấy nhưng bằng một câu ngắn hơn nhiều, và câu ấy rất thẳng.
Này các tỳ-kheo, ai hoan hỷ địa giới, thì người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ.
Hai câu, và một dấu bằng. Hoan hỷ địa giới là hoan hỷ khổ. Không phải dẫn đến, không phải tương tự — là.
Lập luận đằng sau dấu bằng ấy đã được nói ở bài ba mươi tư: địa giới có khổ trong nó, nên vui với nó là vui với khổ.
Đây là câu mà nhiều người đọc Tương Ưng Giới nhớ nhất. Nó không dài, không có hình ảnh, không có câu chuyện — và chính vì thế mà nó không thể bị đọc lướt.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giới (Dhātusaṃyutta), tương ưng thứ 14.
Phẩm Thứ Tư (Catutthavagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Giới.
Kinh Hoan Hỷ (Abhinandasutta) — bài thứ ba mươi lăm.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, ai hoan hỷ địa giới, thì người ấy hoan hỷ khổ.
Ai hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ.
Này các tỳ-kheo, ai hoan hỷ thủy giới, thì người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ.
Này các tỳ-kheo, ai hoan hỷ hỏa giới, thì người ấy hoan hỷ khổ. Ai hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ.
Này các tỳ-kheo, ai hoan hỷ phong giới, thì người ấy hoan hỷ khổ.
Ai hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy không giải thoát khỏi khổ.
Này các tỳ-kheo, ai không hoan hỷ địa giới, thì người ấy không hoan hỷ khổ.
Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy được giải thoát khỏi khổ.
Này các tỳ-kheo, ai không hoan hỷ thủy giới, thì người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy được giải thoát khỏi khổ.
Này các tỳ-kheo, ai không hoan hỷ hỏa giới, thì người ấy không hoan hỷ khổ. Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy được giải thoát khỏi khổ.
Này các tỳ-kheo, ai không hoan hỷ phong giới, thì người ấy không hoan hỷ khổ.
Ai không hoan hỷ khổ, Ta nói rằng người ấy được giải thoát khỏi khổ."
Bài thứ ba mươi lăm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.