Tương Ưng Bộ · SN 12.15
Kinh Kaccānagotta
Kaccānagottasutta — bài thứ năm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Kaccānagotta (Kaccānagottasutta) là bài ngắn nhất về chánh kiến, và cũng là bài bị trích dẫn nhiều nhất trong toàn bộ Kinh tạng Pali.
Tôn giả Kaccānagotta hỏi một câu rất gọn:
Bạch Thế Tôn, người ta nói "chánh kiến, chánh kiến". Đến mức nào thì được gọi là chánh kiến?
Và Đức Thế Tôn không đưa ra một định nghĩa. Ngài đưa ra hai cực đoan và nói vị trí ở giữa:
"Tất cả đều có" — này Kaccāna, đó là một cực đoan. "Tất cả đều không có" — đó là cực đoan thứ hai. Không đi theo cả hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo con đường giữa.
Điều đáng chú ý là cả hai cực đoan đều bị loại bằng cùng một lý do, và lý do ấy rất lạ:
Ai thấy như thật sự sinh khởi của đời, thì cái "không có" đối với đời không còn nơi người ấy. Ai thấy như thật sự chấm dứt của đời, thì cái "có" đối với đời không còn nơi người ấy.
Nghĩa là: thấy cái gì đang được sinh ra thì không nói "không có gì cả". Thấy cái gì đang tắt đi thì không nói "có một cái gì tồn tại mãi". Hai cái thấy ấy cùng lúc, và chúng triệt tiêu hai cực đoan cùng một lúc.
Rồi câu chốt, cũng là câu mà các thiền sư đời sau nhắc đi nhắc lại:
Người ấy không còn nghi ngờ: "cái gì sinh khởi thì chỉ là khổ sinh khởi; cái gì chấm dứt thì chỉ là khổ chấm dứt."
Không có ai sinh ra. Không có ai chết đi. Chỉ có khổ đang sinh khởi và khổ đang chấm dứt — và một người thấy được như vậy thì không cần hỏi ai nữa.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Thức Ăn (Āhāravagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Kaccānagotta (Kaccānagottasutta) — bài thứ năm.
Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Sāvatthī.
Rồi Tôn giả Kaccānagotta đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Kaccānagotta bạch Đức Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, người ta nói 'chánh kiến, chánh kiến'.
Đến mức nào thì được gọi là chánh kiến, bạch Thế Tôn?"
"Này Kaccāna, đời này phần lớn nương vào hai điều: 'có' và 'không có'.
Này Kaccāna, ai thấy như thật bằng chánh trí tuệ sự sinh khởi của đời, thì cái 'không có' đối với đời không còn nơi người ấy.
Này Kaccāna, ai thấy như thật bằng chánh trí tuệ sự chấm dứt của đời, thì cái 'có' đối với đời không còn nơi người ấy.
Này Kaccāna, đời này phần lớn bị trói buộc bởi sự nắm bắt, chấp thủ và cố chấp.
Nhưng ai không đi theo, không nắm lấy, không cố chấp vào chỗ tâm dừng lại ấy — cái nắm bắt, chấp thủ, cố chấp và tùy miên ấy — mà nghĩ rằng 'đó là tự ngã của ta',
thì người ấy không còn nghi ngờ, không còn do dự: 'cái gì sinh khởi thì chỉ là khổ sinh khởi; cái gì chấm dứt thì chỉ là khổ chấm dứt'. Tri kiến ấy nơi người ấy là tự mình có, không nhờ người khác.
Đến mức ấy, này Kaccāna, được gọi là chánh kiến.
'Tất cả đều có' — này Kaccāna, đó là một cực đoan.
'Tất cả đều không có' — đó là cực đoan thứ hai.
Không đi theo cả hai cực đoan ấy, này Kaccāna, Như Lai thuyết pháp theo con đường giữa:
'Vô minh duyên hành;
hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sinh; sinh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh khởi.
Như vậy là sự sinh khởi của toàn bộ khối khổ này.
Do sự ly tham và chấm dứt vô minh không còn dư tàn, hành chấm dứt;
hành chấm dứt nên thức chấm dứt; thức chấm dứt nên danh sắc chấm dứt; danh sắc chấm dứt nên sáu xứ chấm dứt; sáu xứ chấm dứt nên xúc chấm dứt; xúc chấm dứt nên thọ chấm dứt; thọ chấm dứt nên ái chấm dứt; ái chấm dứt nên thủ chấm dứt; thủ chấm dứt nên hữu chấm dứt; hữu chấm dứt nên sinh chấm dứt; sinh chấm dứt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não chấm dứt.
Như vậy là sự chấm dứt của toàn bộ khối khổ này.'"
Kinh Kaccānagotta, bài thứ năm, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.