Tương Ưng Bộ · SN 35.209
Kinh Khổ Nơi Hiện Tại Rồi Vô Ngã
Ajjhattātītādiyaṁdukkhasutta — bài thứ bốn mươi hai
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ bốn mươi ba đóng bộ ba rút gọn nội xứ, bằng hiện tại.
Này các tỳ-kheo, con mắt là khổ, thuộc hiện tại. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi chuỗi kết.
Và từ bài 210, bước khổ cũng bị bỏ. Chỉ còn:
Này các tỳ-kheo, con mắt là vô ngã, thuộc quá khứ. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Đó là dạng ngắn nhất của lập luận — và nó là dạng mạnh nhất, vì nó không cần suy ra gì cả.
Vô ngã không phải một kết luận ở đây. Nó là một điều được thấy.
Và sự chuyển từ "suy ra" sang "thấy" ấy là một sự chuyển quan trọng — nó là điều mà cả bộ Tương Ưng Sáu Xứ nhắm vào, và nó xảy ra ở đây, ở bài thứ hai trăm mười.
Ba bài 210, 211, 212 là dạng trần của lập luận: không bước đệm, chỉ kết quả.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Khổ Nơi Hiện Tại Rồi Vô Ngã (Ajjhattātītādiyaṁdukkhasutta) — bài thứ bốn mươi hai.
"Này các tỳ-kheo, con mắt là khổ, thuộc hiện tại; các sắc là khổ, thuộc hiện tại; nhãn thức là khổ, thuộc hiện tại; nhãn xúc là khổ, thuộc hiện tại; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên nhãn xúc, cái ấy cũng là khổ, thuộc hiện tại.
Cũng vậy với cái tai, cái mũi, cái lưỡi, cái thân và ý cùng các cảnh, thức, xúc, thọ của chúng — tất cả đều là khổ, thuộc hiện tại.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.