Tương Ưng Bộ · SN 35.208
Kinh Khổ Nơi Vị Lai Rồi Vô Ngã
Ajjhattātītādiyaṁdukkhasutta — bài thứ bốn mươi mốt
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ bốn mươi hai là bài giữa của bộ ba rút gọn, với vị lai.
Này các tỳ-kheo, con mắt là khổ, thuộc vị lai. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi chuỗi nhàm chán, ly tham, giải thoát.
Đến đây, có một điều về cấu trúc lô-gích của ba khối cuối phẩm đáng ghi lại, vì nó rất gọn:
- 204–206: vô thường → khổ → vô ngã (đủ ba bước, mười bốn đoạn)
- 207–209: khổ → vô ngã (bỏ bước đầu, năm đoạn)
- 210–212: chỉ vô ngã (bỏ hai bước đầu, bốn đoạn)
Ba khối, và mỗi khối bỏ một bước. Đó là một sự thu gọn có hệ thống — không phải ngẫu nhiên.
Rồi 213–221 làm đúng như vậy cho ngoại xứ: đủ ba bước (213–215), hai bước (216–218), một bước (219–221).
Nghĩa là khối 204–221 là hai lần ba khối: một lần cho nội, một lần cho ngoại.
Và đó là toàn bộ phần "suy luận" của phẩm — mười tám bài, sáu khối, một bảng.
Đến đây thì cái bảng đã hiện ra hoàn toàn.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Khổ Nơi Vị Lai Rồi Vô Ngã (Ajjhattātītādiyaṁdukkhasutta) — bài thứ bốn mươi mốt.
"Này các tỳ-kheo, con mắt là khổ, thuộc vị lai; các sắc là khổ, thuộc vị lai; nhãn thức là khổ, thuộc vị lai; nhãn xúc là khổ, thuộc vị lai; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên nhãn xúc, cái ấy cũng là khổ, thuộc vị lai.
Cũng vậy với cái tai, cái mũi, cái lưỡi, cái thân và ý cùng các cảnh, thức, xúc, thọ của chúng — tất cả đều là khổ, thuộc vị lai.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.