buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.207

Kinh Khổ Nơi Quá Khứ Rồi Vô Ngã

Ajjhattātītādiyaṁdukkhasutta — bài thứ bốn mươi

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ bốn mươi mốt mở một khối mới: suy luận rút gọn.

Này các tỳ-kheo, con mắt là khổ, thuộc quá khứ; các sắc là khổ, thuộc quá khứ; nhãn thức là khổ, thuộc quá khứ; nhãn xúc là khổ, thuộc quá khứ; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên nhãn xúc, cái ấy cũng là khổ, thuộc quá khứ.

Rồi: cũng vậy với tai, mũi, lưỡi, thân và ý.

Rồi câu then chốt:

Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Đó là một rút gọn so với bài 204: bỏ bước vô thường, chỉ còn khổ → vô ngã.

Và sự rút gọn ấy có một lý do lô-gích: nếu khổ đã bao hàm vô thường (vì cái thường thì không khổ), thì bước thứ nhất không cần.

Đó là một sự tối ưu hóa lập luận, và nó cho thấy phẩm này không chỉ lặp — nó biến đổi có lý.

Ba bài 207, 208, 209 làm việc ấy cho ba thời, ở phía nội xứ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Khổ Nơi Quá Khứ Rồi Vô Ngã (Ajjhattātītādiyaṁdukkhasutta) — bài thứ bốn mươi.


"Này các tỳ-kheo, con mắt là khổ, thuộc quá khứ; các sắc là khổ, thuộc quá khứ; nhãn thức là khổ, thuộc quá khứ; nhãn xúc là khổ, thuộc quá khứ; và cảm thọ — lạc, khổ hay không khổ không lạc — sinh khởi do duyên nhãn xúc, cái ấy cũng là khổ, thuộc quá khứ.

Cũng vậy với cái tai, cái mũi, cái lưỡi, cái thân và ý cùng các cảnh, thức, xúc, thọ của chúng — tất cả đều là khổ, thuộc quá khứ.

Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →