Tương Ưng Bộ · SN 35.206
Kinh Vô Thường Nơi Hiện Tại Rồi Vô Ngã
Ajjhattapaccuppannayadaniccasutta — bài thứ ba mươi chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ bốn mươi đóng bộ ba lập luận, bằng hiện tại.
Con mắt là vô thường, thuộc hiện tại. Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi lưỡi, rồi ý.
Bốn mươi bài. Và đây là chỗ tôi muốn dừng lại để nói về ba câu cuối của mỗi đoạn — vì chúng là phần quan trọng nhất của cả phẩm.
Cái này không phải của tôi (netaṁ mama). Cái này không phải là tôi (nesohamasmi). Cái này không phải tự ngã của tôi (na meso attā).
Ba câu, và chúng không đồng nghĩa. Câu thứ nhất nói về sở hữu. Câu thứ hai nói về đồng nhất. Câu thứ ba nói về cái tự ngã như một thực thể.
Đó là ba cách mà người ta bám vào một cái gì: bám vì nó của mình, bám vì nó là mình, bám vì nó là bản chất của mình.
Và cả ba đều bị gỡ bằng cùng một cách: thấy đúng như thật.
Đó là lý do vì sao ba câu ấy được lặp mười bốn lần trong mỗi bài. Không phải để nhấn mạnh — để phủ kín.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Thường Nơi Hiện Tại Rồi Vô Ngã (Ajjhattapaccuppannayadaniccasutta) — bài thứ ba mươi chín.
"Con mắt là vô thường, thuộc hiện tại.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Cái lưỡi là vô thường, thuộc hiện tại.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Ý là vô thường, thuộc hiện tại.
Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với nhãn thức, nhàm chán đối với nhãn xúc; nhàm chán đối với cái lưỡi, các vị, thiệt thức, thiệt xúc; nhàm chán đối với ý, các pháp, ý thức, ý xúc.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát; vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.