buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.11

Kinh Khổ Ngoại Phần (II)

Bāhirādukkhātītānāgatasutta — bài thứ mười một

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Khổ Ngoại Phần (II) (Bāhirādukkhātītānāgatasutta) là bài ngắn nhất trong cả tương ưng — chỉ năm đoạn.

Kinh chỉ nêu một đối tượng duy nhất: các sắc. Rồi dùng một dấu lặp để nói: năm đối tượng còn lại cũng y như vậy.

"Các sắc, này các tỳ-kheo, là khổ, đã qua và chưa đến; huống nữa là các sắc hiện tại."

Sự ngắn gọn ấy không phải sơ suất. Trong một phẩm mà mọi bài đều cùng một khuôn, bài ngắn nhất chính là bài nói rõ nhất rằng: cái khuôn mới là nội dung. Người đọc đã hiểu khuôn thì không cần đọc hết.

Và có một điều đáng để ý về cách bản Pali được ghi: dấu lặp ấy không nằm trong lời Phật, nó nằm trong cách truyền tụng. Người tụng ghi chú cho người tụng sau. Bản dịch này mở rộng nó ra thành lời đầy đủ, nhưng cái ghi chú ấy vẫn đáng được nhớ — vì nó cho thấy bộ kinh đã được dùng như thế nào.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Khổ Ngoại Phần (II) (Bāhirādukkhātītānāgatasutta) — bài thứ mười một.


"Các sắc là khổ, đã qua và chưa đến;

huống nữa là các sắc hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các sắc đã qua;

không hoan hỷ với các sắc chưa đến; đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các sắc hiện tại. Các tiếng là khổ, đã qua và chưa đến; huống nữa là các tiếng hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các tiếng đã qua; không hoan hỷ với các tiếng chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các tiếng hiện tại. Các mùi là khổ, đã qua và chưa đến; huống nữa là các mùi hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các mùi đã qua; không hoan hỷ với các mùi chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các mùi hiện tại. Các vị là khổ, đã qua và chưa đến; huống nữa là các vị hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các vị đã qua; không hoan hỷ với các vị chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các vị hiện tại. Các vật chạm là khổ, đã qua và chưa đến; huống nữa là các vật chạm hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các vật chạm đã qua; không hoan hỷ với các vật chạm chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các vật chạm hiện tại. Các pháp là khổ, đã qua và chưa đến; huống nữa là các pháp hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các pháp đã qua; không hoan hỷ với các pháp chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các pháp hiện tại."

Bài thứ mười một.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →