buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.12

Kinh Vô Ngã Ngoại Phần (II)

Bāhirānattātītānāgatasutta — bài thứ mười hai

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Vô Ngã Ngoại Phần (II) (Bāhirānattātītānāgatasutta) khép phẩm thứ nhất, và mang theo lời đóng phẩm cùng kệ tóm tắt.

Bài cuối cùng nói đúng điều mà mười một bài trước đã chuẩn bị:

các pháp là vô ngã, đã qua và chưa đến; huống nữa là các pháp hiện tại.

Rồi kệ tóm tắt, bốn câu, gói cả phẩm lại:

Vô thường, khổ, vô ngã, ba bài nội phần, ba bài ngoại phần; ba bài nói theo cách vô thường, cũng đều là nội phần và ngoại phần như vậy.

Đọc kệ này, người ta thấy rõ điều mà đọc từng bài thì khó thấy: phẩm này là một bảng. Mười hai ô, không hơn. Không có bài nào là bài học riêng; tất cả là một ma trận được tụng lên.

Và cái ma trận ấy có một hệ quả không nằm trong chữ nghĩa: sau khi đi hết mười hai ô ấy, người đọc không còn chỗ nào để nói "cái này thì khác". Mắt hay sắc, trong hay ngoài, đã qua hay đang có — câu trả lời giống nhau. Sự đồng nhất ấy không phải nghèo nàn; nó là cánh cửa.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Ngã Ngoại Phần (II) (Bāhirānattātītānāgatasutta) — bài thứ mười hai.


"Các sắc là vô ngã, đã qua và chưa đến;

huống nữa là các sắc hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các sắc đã qua;

không hoan hỷ với các sắc chưa đến;

đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các sắc hiện tại.

Các tiếng là vô ngã, đã qua và chưa đến; huống nữa là các tiếng hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các tiếng đã qua; không hoan hỷ với các tiếng chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các tiếng hiện tại.

Các mùi là vô ngã, đã qua và chưa đến; huống nữa là các mùi hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các mùi đã qua; không hoan hỷ với các mùi chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các mùi hiện tại.

Các vị là vô ngã, đã qua và chưa đến; huống nữa là các vị hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các vị đã qua; không hoan hỷ với các vị chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các vị hiện tại.

Các vật chạm là vô ngã, đã qua và chưa đến; huống nữa là các vật chạm hiện tại. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các vật chạm đã qua; không hoan hỷ với các vật chạm chưa đến; và đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các vật chạm hiện tại.

Các pháp là vô ngã, đã qua và chưa đến;

huống nữa là các pháp hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều không còn mong đợi nơi các pháp đã qua;

không hoan hỷ với các pháp chưa đến;

đang thực hành để nhàm chán, ly tham, chấm dứt các pháp hiện tại."

Bài thứ mười hai.

Phẩm Vô Thường, phẩm thứ nhất, đến đây là hết.

Kệ tóm tắt phẩm:

Vô thường, khổ, vô ngã,

ba bài nội phần, ba bài ngoại phần;

ba bài nói theo cách vô thường,

cũng đều là nội phần và ngoại phần như vậy.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →