Tương Ưng Bộ · SN 35.5
Kinh Khổ Ngoại Phần
Bāhirādukkhasutta — bài thứ năm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Khổ Ngoại Phần (Bāhirādukkhasutta) — cùng sáu đối tượng, đổi sang khổ.
Bài này có một câu đáng dừng lại lâu hơn cả bài:
"Các sắc, này các tỳ-kheo, là khổ."
Không phải "sắc làm ta khổ". Không phải "sắc đem lại khổ". Mà là sắc là khổ. Câu ấy nghe như một sự phóng đại, và nếu đọc nhanh thì nó vô nghĩa — một màu xanh thì khổ ở chỗ nào?
Nhưng chữ dukkha không chỉ cái đau. Nó là cái không giữ được. Một màu xanh đẹp, nếu nó đứng yên thì không khổ; nhưng nó không đứng yên — nó nhạt đi, nó đổi, nó mất. Và cái gì đã nằm trong chỗ mất thì không thể là chỗ tựa.
Đó là lý do kinh ghép "khổ" với "vô ngã" chứ không ghép với "buồn". Buồn là chuyện của người đang bám; khổ ở đây là chuyện của cái đang trôi.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Khổ Ngoại Phần (Bāhirādukkhasutta) — bài thứ năm.
"Các sắc, này các tỳ-kheo, là khổ.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các tiếng là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các mùi là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các vị là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các vật chạm là khổ. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các pháp là khổ.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm, nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bài thứ năm.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.