Tương Ưng Bộ · SN 35.6
Kinh Vô Ngã Ngoại Phần
Bāhirānattasutta — bài thứ sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Vô Ngã Ngoại Phần (Bāhirānattasutta) là bài khép lại nửa đầu của phẩm — sáu đối tượng, một bước duy nhất.
Các sắc là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.'
Sáu bài đầu của phẩm là một hình vuông gọn ghẽ: ba tính chất (vô thường, khổ, vô ngã) nhân hai phía (nội, ngoại). Đến đây thì hình vuông ấy đã đủ, và bài này là góc cuối cùng.
Điều đáng chú ý là kinh không hề nói "hãy từ bỏ sáu đối tượng". Nó chỉ nói: chúng không phải của bạn. Cái sai không nằm ở chỗ thấy sắc, nghe tiếng; cái sai nằm ở chỗ nhận chúng làm sở hữu.
Và có một hệ quả rất thực tế: nếu sắc không phải của tôi, thì tôi không phải bảo vệ nó, không phải giữ nó, không phải buồn khi nó mất. Gánh nặng rơi xuống không phải vì tôi mạnh hơn, mà vì tôi thôi nhặt nó lên.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Vô Thường (Aniccavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Ngã Ngoại Phần (Bāhirānattasutta) — bài thứ sáu.
"Các sắc, này các tỳ-kheo, là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các tiếng là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các mùi là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các vị là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các vật chạm là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Các pháp là vô ngã.
Cái gì vô ngã thì cần phải thấy như thật bằng trí tuệ chân chánh: 'Đây không phải của tôi, đây không phải là tôi, đây không phải tự ngã của tôi.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm, nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: 'Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: 'Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bài thứ sáu.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.