Tương Ưng Bộ · SN 35.217
Kinh Khổ Nơi Vị Lai Rồi Vô Ngã Ngoại Xứ
Bāhirātītādiyaṁdukkhasutta — bài thứ năm mươi
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ năm mươi mốt là bài giữa của khối hai bước ngoại xứ, với vị lai.
Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, thuộc vị lai. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi năm cảnh còn lại, rồi chuỗi kết.
Năm mươi mốt bài. Và chỉ còn chín bài nữa.
Đến đây, người đọc đã đi qua gần như toàn bộ những gì phẩm này có thể nói. Và có lẽ đã nhận ra một điều: mình đã đọc cùng một bài sáu mươi lần.
Đó là một trải nghiệm kỳ lạ, và tôi nghĩ nó không phải tai nạn.
Trong truyền thống, phẩm này được tụng, và người tụng biết nó lặp. Sự lặp ấy có một công dụng mà đọc thầm không có: nó tạo nhịp, và nhịp thì dẫn tâm vào định.
Nghĩa là: phẩm này không được dựng để hiểu. Nó được dựng để hành.
Và nếu đọc nó với kỳ vọng hiểu, người đọc sẽ thất vọng. Nếu đọc với kỳ vọng nhịp, nó sẽ làm việc.
Tôi biết điều ấy vì tôi đã dịch nó — và đã đọc nó thành tiếng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Khổ Nơi Vị Lai Rồi Vô Ngã Ngoại Xứ (Bāhirātītādiyaṁdukkhasutta) — bài thứ năm mươi.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, thuộc vị lai.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp — tất cả đều là khổ, thuộc vị lai; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.