Tương Ưng Bộ · SN 35.218
Kinh Khổ Nơi Hiện Tại Rồi Vô Ngã Ngoại Xứ
Bāhirātītādiyaṁdukkhasutta — bài thứ năm mươi mốt
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ năm mươi hai đóng khối hai bước ngoại xứ, bằng hiện tại.
Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, thuộc hiện tại. Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi năm cảnh còn lại, rồi chuỗi kết.
Từ bài 219, bước khổ cũng bị bỏ, và chỉ còn:
Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, thuộc quá khứ. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi năm cảnh còn lại.
Đó là dạng trần nhất của lập luận ở phía ngoại xứ — và nó có bốn đoạn.
Ba bài 219, 220, 221 sẽ đóng khối ấy. Rồi năm bài 222–226 là dạng nén nhất: ba đoạn, danh sách sáu mục, không có đoạn suy luận nào.
Và rồi bài 227 — bài kết — nơi phẩm tự đếm mình.
Còn chín bài. Và tôi muốn nói trước: bài 227 đáng đọc kỹ. Nó là bài duy nhất trong phẩm có một câu không lặp lại ở đâu cả.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Khổ Nơi Hiện Tại Rồi Vô Ngã Ngoại Xứ (Bāhirātītādiyaṁdukkhasutta) — bài thứ năm mươi mốt.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, thuộc hiện tại.
Cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp — tất cả đều là khổ, thuộc hiện tại; cái gì khổ thì cái ấy là vô ngã.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.