buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.219

Kinh Vô Ngã Nơi Quá Khứ Ngoại Xứ Rồi Các Pháp

Bāhirātītādiyadanattasutta — bài thứ năm mươi hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ năm mươi ba mở khối chỉ vô ngã ở ngoại xứ.

Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, thuộc quá khứ. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Rồi: cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp.

Rồi chuỗi kết.

Đó là bài ngắn thứ nhì của phẩm — bốn đoạn — và nó là bản đối xứng của bài 210.

Năm mươi ba bài. Và còn bảy bài — năm bài nén (222–226) và hai bài kết (227, cùng dòng cuối).

Đến đây, có một điều tôi muốn nói về toàn bộ phẩm, vì đã gần hết.

Phẩm này là phẩm khó đọc nhất trong Tương Ưng Sáu Xứ — không phải vì khó hiểu, mà vì nó không cố làm cho dễ đọc. Nó là một công cụ, và công cụ thì không cần hấp dẫn.

Nhưng nó có một vẻ đẹp riêng, và vẻ đẹp ấy chỉ hiện ra khi nhìn cấu trúc: hai cánh đối xứng, ba đường dốc, sáu mươi ô.

Đó là vẻ đẹp của một bảng tuần hoàn — không phải của một bài thơ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Ngã Nơi Quá Khứ Ngoại Xứ Rồi Các Pháp (Bāhirātītādiyadanattasutta) — bài thứ năm mươi hai.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, thuộc quá khứ.

Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.

Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp — tất cả đều là vô ngã, thuộc quá khứ.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát. Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →