Tương Ưng Bộ · SN 35.220
Kinh Vô Ngã Nơi Vị Lai Ngoại Xứ Rồi Các Pháp
Bāhirātītādiyadanattasutta — bài thứ năm mươi ba
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ năm mươi tư là bài giữa của khối chỉ vô ngã ngoại xứ, với vị lai.
Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, thuộc vị lai. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi năm cảnh còn lại, rồi chuỗi kết.
Năm mươi bốn bài. Còn sáu.
Và tôi muốn dùng bài này để nói về một điều mà tôi không làm được khi dịch phẩm này, và tại sao.
Có một cách trình bày phẩm này dễ đọc hơn nhiều: một bảng, sáu hàng, và ghi chú "sáu mươi bài trong phẩm này là sáu mươi tổ hợp của bảng dưới đây".
Cách ấy đúng, và nó tiết kiệm cho người đọc rất nhiều thời gian.
Tôi không chọn cách ấy, vì hai lý do.
Thứ nhất: bản dịch này dịch một bộ kinh, không viết một bài giảng về bộ kinh. Và dịch thì phải theo bản.
Thứ hai: cái số sáu mươi là một phần của hình thức, và hình thức ấy có nghĩa — như tôi đã nói ở bài 184.
Nhưng tôi ghi lại ở đây, trong lời giới thiệu, để người đọc có cái bảng ấy. Đó là chỗ đúng để nói những gì bản văn không nói.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Ngã Nơi Vị Lai Ngoại Xứ Rồi Các Pháp (Bāhirātītādiyadanattasutta) — bài thứ năm mươi ba.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, thuộc vị lai.
Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp — tất cả đều là vô ngã, thuộc vị lai.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát. Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.