Tương Ưng Bộ · SN 35.221
Kinh Vô Ngã Nơi Hiện Tại Ngoại Xứ Rồi Các Pháp
Bāhirātītādiyadanattasutta — bài thứ năm mươi tư
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ năm mươi lăm đóng khối chỉ vô ngã ngoại xứ, và nó đóng toàn bộ khối suy luận (204–221).
Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, thuộc hiện tại. Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Rồi năm cảnh còn lại, rồi chuỗi kết.
Mười tám bài suy luận đã xong. Và còn năm bài nén (222–226) cùng một bài kết (227).
Năm bài 222–226 có một đặc điểm mà tôi cần báo trước: chúng không có đoạn suy luận nào. Chúng chỉ liệt kê rồi kết luận:
Này các tỳ-kheo, con mắt là vô thường, cái tai là vô thường, cái mũi là vô thường, cái lưỡi là vô thường, cái thân là vô thường và ý là vô thường. Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, cho tới nhàm chán đối với ý. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát; vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.
Ba đoạn. Đó là dạng nén nhất — và nó là dạng mà nhiều bản dịch hiện đại chọn để đại diện cho cả phẩm.
Sau khi đọc hết sáu mươi bài, người đọc sẽ thấy vì sao.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Ngã Nơi Hiện Tại Ngoại Xứ Rồi Các Pháp (Bāhirātītādiyadanattasutta) — bài thứ năm mươi tư.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô ngã, thuộc hiện tại.
Cái gì vô ngã thì cần được thấy đúng như thật bằng chánh trí tuệ rằng: cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi.
Cũng vậy với các tiếng, các mùi, các vị, các vật chạm và các pháp — tất cả đều là vô ngã, thuộc hiện tại.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát. Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.