Tương Ưng Bộ · SN 35.222
Kinh Nội Xứ Vô Thường
Ajjhattāyatanaaniccasutta — bài thứ năm mươi lăm
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ năm mươi sáu là bài nén nhất đầu tiên: ba đoạn, không suy luận.
Này các tỳ-kheo, con mắt là vô thường, cái tai là vô thường, cái mũi là vô thường, cái lưỡi là vô thường, cái thân là vô thường và ý là vô thường.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, cho tới nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát; vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa.
Ba đoạn. Và đây là toàn bộ nội dung của Tương Ưng Sáu Xứ, nén vào ba đoạn.
Sáu bài 222–227 đi qua sáu tổ hợp của bảng: nội vô thường, nội khổ, nội vô ngã, ngoại vô thường, ngoại khổ, ngoại vô ngã.
Và bài cuối — 227 — là ngoại vô ngã, tức là ô cuối cùng của bảng.
Nghĩa là phẩm này đóng đúng ở ô cuối. Không thừa, không thiếu.
Đó là một sự hoàn tất mà tôi thấy đáng để dừng lại, vì nó là kiểu hoàn tất mà một bảng có, không phải một câu chuyện.
Và phẩm này là một bảng.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Nội Xứ Vô Thường (Ajjhattāyatanaaniccasutta) — bài thứ năm mươi lăm.
"Này các tỳ-kheo, con mắt là vô thường, cái tai là vô thường, cái mũi là vô thường, cái lưỡi là vô thường, cái thân là vô thường và ý là vô thường.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát; vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.