Tương Ưng Bộ · SN 35.223
Kinh Nội Xứ Khổ
Ajjhattāyatanadukkhasutta — bài thứ năm mươi sáu
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ năm mươi bảy là ô thứ hai của sáu bài nén: nội xứ, khổ.
Này các tỳ-kheo, cái mắt là khổ, cái tai là khổ, cái mũi là khổ, cái lưỡi là khổ, cái thân là khổ và ý là khổ.
Rồi hai đoạn kết quen thuộc.
Ba đoạn, và không có một lời giải thích nào về chữ khổ.
Đó là đặc điểm của cả sáu bài này: chúng giả định người nghe đã biết. Và trong một bộ kinh được tụng cho tỳ-kheo đã tu, giả định ấy hợp lý.
Nhưng nó đặt người đọc hôm nay vào một chỗ khó: không có ai giải thích.
Và đó là lý do tôi viết lời giới thiệu cho từng bài — kể cả những bài chỉ có ba đoạn. Không phải để thêm vào kinh, mà để dựng cảnh cho kinh.
Một bài ba đoạn có thể cần một lời giới thiệu dài hơn nó. Đó không phải mất cân đối — đó là bù lại khoảng cách giữa một người nghe thế kỷ thứ nhất và một người đọc hôm nay.
Và tôi nghĩ khoảng cách ấy nên được bù, chứ không nên giả vờ là không có.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Nội Xứ Khổ (Ajjhattāyatanadukkhasutta) — bài thứ năm mươi sáu.
"Này các tỳ-kheo, con mắt là khổ, cái tai là khổ, cái mũi là khổ, cái lưỡi là khổ, cái thân là khổ và ý là khổ.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát; vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.