buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.198

Kinh Khổ Nơi Quá Khứ Ngoại Xứ

Bāhirātītādidukkhasutta — bài thứ ba mươi mốt

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ ba mươi hai mở khối khổ × ba thời × ngoại xứ.

Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, các tiếng là khổ, các mùi là khổ, các vị là khổ, các vật chạm là khổ và các pháp là khổ, tất cả đều thuộc quá khứ.

Rồi chuỗi quen thuộc.

Đến bài này, người đọc đã gặp khổ với đủ mọi tổ hợp: khổ nội xứ (171–173, 189–191), khổ ngoại xứ (180–182, 198–200).

Và có một câu hỏi hợp lý: có gì khác nhau không?

Về chữ, gần như không. Về vị trí, có — và vị trí là một phần của nghĩa.

Bài 171 nói khổ sau vô thường, trong một khối về "ba chữ". Bài 189 nói khổ sau vô thường, trong một khối về "ba thời". Bài 198 nói khổ sau vô thường, trong khối "ba thời × ngoại".

Ba cái cùng nội dung, ba ngữ cảnh khác nhau. Và ngữ cảnh ấy không được nói ra — nó được dựng bằng cách đặt bài vào một chuỗi.

Đó là một đặc điểm của kinh tạng: nghĩa nằm cả ở chỗ đứng, không chỉ ở câu chữ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Khổ Nơi Quá Khứ Ngoại Xứ (Bāhirātītādidukkhasutta) — bài thứ ba mươi mốt.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, các tiếng là khổ, các mùi là khổ, các vị là khổ, các vật chạm là khổ và các pháp là khổ, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →