buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.199

Kinh Khổ Nơi Vị Lai Ngoại Xứ

Bāhirātītādidukkhasutta — bài thứ ba mươi hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ ba mươi ba đổi quá khứ thành vị lai trong khối khổ ngoại xứ.

Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, các tiếng là khổ, các mùi là khổ, các vị là khổ, các vật chạm là khổ và các pháp là khổ, tất cả đều thuộc vị lai.

Rồi chuỗi nhàm chán, ly tham, giải thoát.

Và đến đây, có một quan sát về nhịp của phẩm mà tôi muốn ghi lại, vì nó là một phần của trải nghiệm đọc.

Ba bài đầu (168–170) ngắn — sáu tới chín đoạn. Rồi khối mười lăm bài (171–185) rất ngắn — cũng chín đoạn, nhưng câu dài hơn. Rồi khối mười tám bài (186–203) ngắn lại — bốn đoạn.

Nghĩa là phẩm này không đều nhịp. Nó co lại khi đi vào phần lặp.

Và sự co lại ấy có một hiệu quả thực dụng: mười tám bài cuối đọc nhanh hơn mười tám bài đầu, dù nội dung tương đương.

Đó là một điều mà người biên tập có lẽ không tính toán — nó là hệ quả tự nhiên của việc rút gọn dần.

Nhưng nó làm phẩm này đọc được tới cuối. Nếu cả sáu mươi bài đều dài như bài 168, người đọc sẽ dừng ở bài thứ mười.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Khổ Nơi Vị Lai Ngoại Xứ (Bāhirātītādidukkhasutta) — bài thứ ba mươi hai.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là khổ, các tiếng là khổ, các mùi là khổ, các vị là khổ, các vật chạm là khổ và các pháp là khổ, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →