Tương Ưng Bộ · SN 35.197
Kinh Vô Thường Nơi Hiện Tại Ngoại Xứ
Bāhirātītādianiccasutta — bài thứ ba mươi
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ ba mươi mốt đóng bộ ba vô thường ngoại xứ, bằng hiện tại.
Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, các tiếng là vô thường, các mùi là vô thường, các vị là vô thường, các vật chạm là vô thường và các pháp là vô thường, tất cả đều thuộc hiện tại.
Rồi chuỗi nhàm chán, ly tham, giải thoát, sinh đã tận.
Ba bài 195, 196, 197 đóng chín bài đầu của cánh phải, và còn lại sáu bài nữa cho khổ và vô ngã.
Đến đây tôi muốn nói một điều về bản dịch này, vì nó liên quan tới những bài như thế này.
Có hai cách dịch một bài peyyāla.
Cách thứ nhất: dịch sát chữ, kể cả những chỗ bản Pali rút gọn, và ghi chú chỗ lược bằng dấu ba chấm. Cách này trung thực với bản chép nhưng vô dụng với người đọc.
Cách thứ hai: viết đủ những gì bản rút gọn, dựa trên khuôn của các bài đầy đủ trong cùng bộ. Cách này trung thực với nội dung nhưng không trung thực với hình thức.
Bản dịch này chọn cách thứ hai, và nói rõ điều ấy. Lý do: một bản dịch để đọc, không phải để đối chiếu bản thảo.
Và cái giá — mất dấu vết của sự rút gọn — được trả bằng một lợi ích: người đọc hiểu được điều kinh nói, mà không phải đoán.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Thường Nơi Hiện Tại Ngoại Xứ (Bāhirātītādianiccasutta) — bài thứ ba mươi.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, các tiếng là vô thường, các mùi là vô thường, các vị là vô thường, các vật chạm là vô thường và các pháp là vô thường, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.