buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.196

Kinh Vô Thường Nơi Vị Lai Ngoại Xứ

Bāhirātītādianiccasutta — bài thứ hai mươi chín

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ ba mươi là cặp sinh đôi của bài 187, ở phía ngoại xứ.

Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, các tiếng là vô thường, các mùi là vô thường, các vị là vô thường, các vật chạm là vô thường và các pháp là vô thường, tất cả đều thuộc vị lai.

Rồi chuỗi quen thuộc.

Đọc theo cặp như tôi đề nghị ở bài trước, có một điều hiện ra mà đọc tuần tự không thấy: cặp nào cũng đối xứng, trừ một chỗ.

Chỗ ấy là cách nêu đối tượng. Ở cánh trái, bài 186 liệt kê đủ sáu cửa. Ở cánh phải, bài 195 liệt kê đủ sáu cảnh.

Nhưng ở bài 187 (cánh trái), bản Pali rút gọn phần giữa; ở bài 196 (cánh phải) thì không.

Nghĩa là sự đối xứng không tuyệt đối ở mức văn bản — nó tuyệt đối ở mức nội dung.

Và đó là một phân biệt quan trọng khi đọc kinh: cái được nói và cái được chép không phải một. Bản chép có thể rút gọn; cái được nói thì không.

Người tụng biết điều ấy. Người đọc hôm nay phải suy ra nó — và đó là việc của người dịch: làm đầy chỗ trống, không bịa thêm.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Thường Nơi Vị Lai Ngoại Xứ (Bāhirātītādianiccasutta) — bài thứ hai mươi chín.


"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, các tiếng là vô thường, các mùi là vô thường, các vị là vô thường, các vật chạm là vô thường và các pháp là vô thường, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →