Tương Ưng Bộ · SN 35.195
Kinh Vô Thường Nơi Quá Khứ Ngoại Xứ
Bāhirātītādianiccasutta — bài thứ hai mươi tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ hai mươi chín mở cánh phải của phẩm: ngoại xứ × ba thời.
Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, các tiếng là vô thường, các mùi là vô thường, các vị là vô thường, các vật chạm là vô thường và các pháp là vô thường, tất cả đều thuộc quá khứ.
Rồi chuỗi nhàm chán, và lần này đối tượng nhàm chán là các cảnh, không phải các cửa.
Đó là sự đối xứng hoàn hảo với bài 186, và nó cho thấy một điều về cách phẩm này được dựng: mỗi bài ở cánh phải có một bài sinh đôi ở cánh trái.
186 ↔ 195 (vô thường, quá khứ) 187 ↔ 196 (vô thường, vị lai) 188 ↔ 197 (vô thường, hiện tại) 189 ↔ 198 (khổ, quá khứ) 190 ↔ 199 (khổ, vị lai) 191 ↔ 200 (khổ, hiện tại) 192 ↔ 201 (vô ngã, quá khứ) 193 ↔ 202 (vô ngã, vị lai) 194 ↔ 203 (vô ngã, hiện tại)
Chín cặp. Và nếu đọc theo cặp thay vì theo thứ tự, phẩm này rút lại còn chín ý.
Đó là cách đọc tôi muốn đề nghị cho mười tám bài này.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.
Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.
Kinh Vô Thường Nơi Quá Khứ Ngoại Xứ (Bāhirātītādianiccasutta) — bài thứ hai mươi tám.
"Này các tỳ-kheo, các sắc là vô thường, các tiếng là vô thường, các mùi là vô thường, các vị là vô thường, các vật chạm là vô thường và các pháp là vô thường, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.
Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các mùi, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các vật chạm và nhàm chán đối với các pháp.
Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.
Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.