buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.194

Kinh Vô Ngã Nơi Hiện Tại Nội Xứ

Ajjhattātītādianattasutta — bài thứ hai mươi bảy

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ hai mươi tám đóng khối vô ngã nội xứ, bằng hiện tại.

Này các tỳ-kheo, con mắt là vô ngã, cái tai là vô ngã, cái mũi là vô ngã, cái lưỡi là vô ngã, cái thân là vô ngã và ý là vô ngã, tất cả đều thuộc hiện tại.

Và đây là bài cuối của mười tám bài nội xứ (186–194) và cũng là bài cuối của cánh trái phẩm.

Tôi muốn dừng ở đây để nói một điều về ba bài cuối của mỗi bộ ba: chúng luôn là bài hiện tại.

Bài 188 — hiện tại. Bài 191 — hiện tại. Bài 194 — hiện tại.

Trong mỗi bộ ba, hiện tại đứng cuối. Và đó là một lựa chọn có lý: cái khó nhất được để sau cùng, khi hai cái dễ đã dựng xong bậc thang.

Nghĩa là phẩm này không đi theo thời gian (quá khứ → hiện tại → vị lai). Nó đi theo độ khó.

Đó là một chi tiết nhỏ, nhưng nó cho thấy người biên tập có suy nghĩ về người nghe — không chỉ về nội dung.

Và nó là một lý do để tin rằng sự lặp ở đây không phải do lười biếng.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Ngã Nơi Hiện Tại Nội Xứ (Ajjhattātītādianattasutta) — bài thứ hai mươi bảy.


"Này các tỳ-kheo, con mắt là vô ngã, cái tai là vô ngã, cái mũi là vô ngã, cái lưỡi là vô ngã, cái thân là vô ngã và ý là vô ngã, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →