buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.193

Kinh Vô Ngã Nơi Vị Lai Nội Xứ

Ajjhattātītādianattasutta — bài thứ hai mươi sáu

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ hai mươi bảy đổi quá khứ thành vị lai trong khối vô ngã.

Này các tỳ-kheo, con mắt là vô ngã, cái tai là vô ngã, cái mũi là vô ngã, cái lưỡi là vô ngã, cái thân là vô ngã và ý là vô ngã, tất cả đều thuộc vị lai.

Và có một câu hỏi triết học ở đây mà tôi muốn nêu, dù kinh không nêu: cái chưa có mặt thì có thể là vô ngã không?

Nếu vô ngã nghĩa là "không có linh hồn bên trong", thì câu ấy vô nghĩa với một cái chưa xảy ra.

Nhưng nếu vô ngã nghĩa là "không phải của tôi, không phải tôi, không phải tự ngã của tôi" — như các bài 204–221 sẽ nói rõ — thì câu ấy rất có nghĩa: cái sẽ tới cũng không phải của tôi.

Tôi không quyết định được cái mắt mình sẽ thấy gì. Và cái ấy sẽ là vô ngã, đúng như cái đang là.

Đó là một cách đọc làm ba bài 192–194 khác nhau thật, chứ không chỉ khác một chữ.

Và nó cũng cho thấy: trong phẩm này, cái đổi là một chữ; cái không đổi là cả một lập trường.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Ngã Nơi Vị Lai Nội Xứ (Ajjhattātītādianattasutta) — bài thứ hai mươi sáu.


"Này các tỳ-kheo, con mắt là vô ngã, cái tai là vô ngã, cái mũi là vô ngã, cái lưỡi là vô ngã, cái thân là vô ngã và ý là vô ngã, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →