buppou

Tương Ưng Bộ · SN 35.192

Kinh Vô Ngã Nơi Quá Khứ Nội Xứ

Ajjhattātītādianattasutta — bài thứ hai mươi lăm

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ hai mươi sáu mở khối vô ngã × ba thời.

Này các tỳ-kheo, con mắt là vô ngã, cái tai là vô ngã, cái mũi là vô ngã, cái lưỡi là vô ngã, cái thân là vô ngã và ý là vô ngã, tất cả đều thuộc quá khứ.

Rồi chuỗi nhàm chán — ly tham — giải thoát — sinh đã tận.

Bộ ba này (192, 193, 194) đóng khối mười tám bài về ba tính chất × ba thời, ở phía nội xứ.

Và nó là bộ ba cuối của phần "nội xứ" trong phẩm.

Từ bài 195, phẩm chuyển sang ngoại xứ, và đi lại đúng ba tính chất × ba thời — sáu bài nữa (195–203).

Đó là một sự lặp cấu trúc ở mức cao hơn: không phải lặp một bài, mà lặp cả một khối với một chữ đổi — nội thành ngoại.

Và khi nhìn ở mức ấy, phẩm này hiện ra như hai cánh đối xứng: mười tám bài nội xứ, rồi mười tám bài ngoại xứ.

Cái bản lề ở giữa là bài 194, và nó không có gì đặc biệt — nó chỉ là bài cuối của cánh trái.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Sáu Xứ (Saḷāyatanasaṃyutta), tương ưng thứ 35.

Phẩm Sáu Mươi Phép Lặp (Saṭṭhipeyyālavagga) — phẩm thứ mười bảy của Tương Ưng Sáu Xứ.

Kinh Vô Ngã Nơi Quá Khứ Nội Xứ (Ajjhattātītādianattasutta) — bài thứ hai mươi lăm.


"Này các tỳ-kheo, con mắt là vô ngã, cái tai là vô ngã, cái mũi là vô ngã, cái lưỡi là vô ngã, cái thân là vô ngã và ý là vô ngã, thuộc quá khứ, vị lai hay hiện tại.

Thấy vậy, này các tỳ-kheo, vị thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán đối với con mắt, nhàm chán đối với cái tai, nhàm chán đối với cái mũi, nhàm chán đối với cái lưỡi, nhàm chán đối với cái thân và nhàm chán đối với ý.

Do nhàm chán nên ly tham; do ly tham nên được giải thoát; khi được giải thoát, vị ấy biết: Ta đã được giải thoát.

Vị ấy biết: Sinh đã tận, đời sống phạm hạnh đã sống xong, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lại đời này nữa."

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →