buppou

Tương Ưng Bộ · SN 50.42

Kinh Khốn Khổ

Nīghasutta — bài thứ bốn mươi hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này thuộc phẩm Tầm Cầu — mười bài, mỗi bài nêu một nhóm pháp rồi nói rằng để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ nhóm pháp ấy, năm lực cần được tu tập.

Này các tỳ-kheo, có ba sự khốn khổ này.

Cách tu tập được mô tả bằng bốn chữ: nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ. Cả bốn đều là chữ nương vào — nghĩa là không có lực nào tự đứng một mình.

Ba sự khốn khổ là: khốn khổ do tham, do sân, do si. Cùng ba gốc ấy một lần nữa, nhưng lần này là một thứ làm cho người ta bị kẹt.

Bài này không cần thêm gì. Nó đã nói đủ điều nó muốn nói.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Lực (Balasaṃyutta), tương ưng thứ 50.

Phẩm Thứ Tư (Esanāvagga) — phẩm thứ tư của Tương Ưng Lực.

Kinh Khốn Khổ (Nīghasutta) — bài thứ bốn mươi hai.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có ba sự khốn khổ này.

Ba ấy là gì?

Khốn khổ do tham, khốn khổ do sân, khốn khổ do si —

đó là ba sự khốn khổ.

Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ ba sự khốn khổ ấy, năm lực cần được tu tập.

Năm ấy là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tín lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tấn lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập định lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ,

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập tuệ lực — nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.

Để hiểu rõ, thấu hiểu trọn vẹn, tận diệt và đoạn trừ ba sự khốn khổ ấy, năm lực này cần được tu tập."

Bài thứ bốn mươi hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →