Tương Ưng Bộ · SN 12.213
Kinh Không Dễ Duôi về Hành
Appamādasutta — bài thứ mười một
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Không Dễ Duôi về Hành là bài thứ hai trăm mười ba của Tương Ưng Nhân Duyên, và là bài thứ mười một trong nhóm mười một bài lấy không dễ duôi làm pháp.
"Này các tỳ-kheo, với một người không biết hành, không thấy hành như thật, để có sự hiểu biết như thật về hành, thì cần phải không dễ duôi."
Hành là chiếc cuối cùng còn lùi được. Chữ saṅkhāra mang hai nghĩa cùng lúc: cái được làm ra và cái làm ra. Mọi thứ có điều kiện đều là hành; và sự tạo tác của thân, lời, ý cũng là hành. Sau nó chỉ còn vô minh — cái làm cho cả chuỗi chạy.
Appamāda là pháp cuối cùng của phẩm, và cũng là pháp mà Đức Thế Tôn gọi là con đường của mọi bậc thiện.
Câu hỏi mà bài này để lại không phải "hiểu chưa", mà là "đã làm chưa". Hai chuyện ấy cách nhau rất xa, và bài kinh biết điều đó.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Nhân Duyên (Nidānasaṃyutta), tương ưng thứ 12.
Phẩm Antarapeyyāla (Antarapeyyāla) — phẩm thứ chín của Tương Ưng Nhân Duyên.
Kinh Không Dễ Duôi về Hành (Appamādasutta) — bài thứ mười một.
"Này các tỳ-kheo, với một người không biết hành, không thấy hành như thật, không biết sự sinh khởi của hành, không thấy sự sinh khởi của hành như thật, không biết sự chấm dứt của hành, không thấy sự chấm dứt của hành như thật, không biết con đường dẫn đến sự chấm dứt của hành, không thấy con đường ấy như thật, để có sự hiểu biết như thật về hành,
thì cần phải không dễ duôi."
Phẩm Antarapeyyāla, phẩm thứ chín, đến đây là hết.
Kệ tóm tắt phẩm:
Đạo Sư, Học Tập, và Nỗ Lực,
Ý Muốn, Hăng Hái là thứ năm;
Không Mệt Mỏi, Nhiệt Tâm,
Sức Mạnh, Liên Tục được nói đến;
Niệm và Tỉnh Giác,
và Không Dễ Duôi là thứ mười hai.
Các bài kinh lặp ở giữa, đến đây là hết.
Còn lại là mười hai nhóm như vậy,
với ba trăm hai mươi bài kinh;
tất cả được nói bằng bốn sự thật,
trong phần lặp ở giữa này.
Kệ tóm tắt phần lặp ở giữa, đến đây là hết.
Tương Ưng Nhân Duyên, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.