buppou

Tương Ưng Bộ · SN 46.112

Kinh Kiêu Ngạo

Vidhāsutta — bài thứ một trăm mười hai

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Phần peyyāla, mười bài, mỗi bài nêu một nhóm pháp rồi nói rằng để hiểu rõ nhóm pháp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.

Để thắng tri những nhóm pháp ấy, bảy giác chi cần được tu tập.

Bài kinh không giải thích vì sao, chỉ nói rằng đúng là như vậy.

Bài này tên là Kinh Kiêu Ngạo, bài thứ một trăm lẻ mười hai của tương ưng, nằm ở Phẩm Tầm Cầu.

Bài này nói ít, nhưng nói đúng chỗ.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Giác Chi (Bojjhaṅgasaṃyutta), tương ưng thứ 46.

Phẩm Tầm Cầu (Esanāvagga) — phẩm thứ mười hai của Tương Ưng Giác Chi.

Kinh Kiêu Ngạo (Vidhāsutta) — bài thứ một trăm mười hai.


"Tại Sāvatthī.

Này các tỳ-kheo, có ba kiêu ngạo.

Ba ấy là gì?

Đó là kiêu ngạo cho là hơn, kiêu ngạo cho là bằng, kiêu ngạo cho là kém.

Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ ba kiêu ngạo ấy, bảy giác chi cần được tu tập.

Bảy ấy là gì?

Ở đây, này các tỳ-kheo, vị tỳ-kheo tu tập niệm giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập trạch pháp giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập tinh tấn giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập hỷ giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập khinh an giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ; vị tỳ-kheo tu tập định giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ;

vị tỳ-kheo tu tập xả giác chi nương vào ly, nương vào ly tham, nương vào diệt, hướng đến buông bỏ.

Này các tỳ-kheo, để thắng tri, để biến tri, để tận diệt, để đoạn trừ ba kiêu ngạo ấy, bảy giác chi này cần được tu tập."

Bài thứ một trăm lẻ mười hai.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →