Tương Ưng Bộ · SN 54.10
Kinh Kimila
Kimilasutta — bài thứ mười
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười có một sự im lặng ở giữa, và sự im lặng ấy là chủ đề của nó.
Này Kimila, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn?
Đức Thế Tôn hỏi tôn giả Kimila ba lần, và ba lần tôn giả im lặng. Không có lời giải thích nào cho sự im lặng ấy. Rồi tôn giả Ānanda lên tiếng, và Đức Thế Tôn dạy cho Ānanda.
Trong một bộ kinh thường có đầy đủ khung cảnh, sự vắng mặt của một lời giải thích như vậy là một chi tiết có chủ ý. Nó để người đọc tự hỏi vì sao, và nó cũng cho thấy rằng bài kinh không phải lúc nào cũng được dạy cho người hỏi.
Phần giáo lý là phần quý nhất của cả tương ưng, vì nó nối mười sáu bước với bốn niệm xứ bằng những câu rất ngắn. Bốn bước đầu là quán thân trên thân — vì hơi thở là một phần của thân. Bốn bước tiếp là quán thọ trên các thọ — vì sự khéo tác ý đến hơi thở là một phần của thọ. Bốn bước nữa là quán tâm trên tâm — vì không có tu tập định nào ở người thất niệm. Bốn bước cuối là quán pháp trên các pháp.
Ba câu giải thích ấy — một phần của thân, một phần của thọ, không có ở người thất niệm — là toàn bộ lý do của cách sắp xếp mười sáu bước. Không có chúng, mười sáu bước chỉ là một danh sách.
Bài khép bằng một ví dụ: một đống bụi ở ngã tư, và xe từ bốn phương đi qua đều đè lên nó. Cũng vậy, khi tỳ-kheo sống quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp, thì các pháp ác, bất thiện bị đè lên.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Hơi Thở (Ānāpānasaṃyutta), tương ưng thứ 54.
Phẩm Thứ Nhất (Ekadhammavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Niệm Hơi Thở.
Kinh Kimila (Kimilasutta) — bài thứ mười.
"Tôi nghe như vầy.
Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Kimilā, trong rừng Veḷuvana.
Tại đó, Đức Thế Tôn gọi tôn giả Kimila:
Này Kimila, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn?
Khi được nói vậy, tôn giả Kimila im lặng.
Lần thứ hai, Đức Thế Tôn gọi tôn giả Kimila:
Này Kimila, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn?
Lần thứ hai, tôn giả Kimila im lặng.
Lần thứ ba, Đức Thế Tôn gọi tôn giả Kimila: Này Kimila, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn? — lần thứ ba, tôn giả Kimila vẫn im lặng.
Khi được nói vậy, tôn giả Ānanda bạch Đức Thế Tôn:
Bạch Đức Thế Tôn, nay là lúc; bạch Thiện Thệ, nay là lúc.
Xin Đức Thế Tôn nói về định đi cùng với niệm hơi thở; sau khi nghe Đức Thế Tôn, các tỳ-kheo sẽ ghi nhớ.
Vậy thì này Ānanda, hãy lắng nghe và khéo tác ý; Ta sẽ nói.
Vâng, bạch Đức Thế Tôn. — tôn giả Ānanda trả lời Đức Thế Tôn.
Đức Thế Tôn nói:
Này Ānanda, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì có quả lớn, có lợi ích lớn?
Này Ānanda, ở đây tỳ-kheo đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào một căn nhà trống, ngồi kiết già, dựng thân thẳng, đặt niệm trước mặt.
Vị ấy thở vào có niệm, thở ra có niệm. Vị ấy học như vầy: Thở vào dài, vị ấy biết mình thở vào dài; thở ra dài, vị ấy biết mình thở ra dài; thở vào ngắn, vị ấy biết mình thở vào ngắn; thở ra ngắn, vị ấy biết mình thở ra ngắn; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở vào; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở ra; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở ra. Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở vào; Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở ra; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở vào; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở ra; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở ra; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở ra. Cảm nhận tâm, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm, ta sẽ thở ra; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở ra; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở ra; Giải thoát tâm, ta sẽ thở vào; Giải thoát tâm, ta sẽ thở ra; Quán vô thường, ta sẽ thở vào; Quán vô thường, ta sẽ thở ra; Quán ly tham, ta sẽ thở vào; Quán ly tham, ta sẽ thở ra; Quán diệt, ta sẽ thở vào; Quán diệt, ta sẽ thở ra;
Quán buông bỏ, ta sẽ thở vào; Quán buông bỏ, ta sẽ thở ra.
Này Ānanda, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy thì có quả lớn, có lợi ích lớn.
Này Ānanda, khi nào tỳ-kheo thở vào dài, biết mình thở vào dài; thở ra dài, biết mình thở ra dài;
thở vào ngắn, biết mình thở vào ngắn; thở ra ngắn, biết mình thở ra ngắn;
học như vầy: Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở vào; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở ra —
này Ānanda, khi ấy tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, đã loại bỏ tham và ưu ở đời.
Vì sao vậy?
Này Ānanda, Ta nói rằng hơi thở vào và hơi thở ra là một phần của thân.
Vì vậy, này Ānanda, khi ấy tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, đã loại bỏ tham và ưu ở đời.
Này Ānanda, khi nào tỳ-kheo học như vầy: Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở vào; Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Cảm nhận lạc, ta sẽ thở vào; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở ra —
này Ānanda, khi ấy tỳ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, đã loại bỏ tham và ưu ở đời.
Vì sao vậy?
Này Ānanda, Ta nói rằng sự khéo tác ý đến hơi thở vào và hơi thở ra là một phần của thọ.
Vì vậy, này Ānanda, khi ấy tỳ-kheo sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, đã loại bỏ tham và ưu ở đời.
Này Ānanda, khi nào tỳ-kheo học như vầy: Cảm nhận tâm, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Giải thoát tâm, ta sẽ thở vào; Giải thoát tâm, ta sẽ thở ra —
này Ānanda, khi ấy tỳ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, đã loại bỏ tham và ưu ở đời.
Vì sao vậy?
Này Ānanda, Ta không nói rằng có sự tu tập định đi cùng với niệm hơi thở ở người thất niệm, không tỉnh giác.
Vì vậy, này Ānanda, khi ấy tỳ-kheo sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, đã loại bỏ tham và ưu ở đời.
Này Ānanda, khi nào tỳ-kheo học như vầy: Quán vô thường, ta sẽ thở vào; Quán vô thường, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Quán ly tham, ta sẽ thở vào; Quán ly tham, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Quán diệt, ta sẽ thở vào; Quán diệt, ta sẽ thở ra;
học như vầy: Quán buông bỏ, ta sẽ thở vào; Quán buông bỏ, ta sẽ thở ra —
này Ānanda, khi ấy tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, đã loại bỏ tham và ưu ở đời.
Vị ấy, sau khi thấy bằng trí tuệ sự đoạn trừ tham và ưu, thì khéo nhìn với xả.
Vì vậy, này Ānanda, khi ấy tỳ-kheo sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, có niệm, đã loại bỏ tham và ưu ở đời.
Này Ānanda, ví như ở ngã tư đường có một đống bụi lớn.
Nếu từ phương Đông có một cỗ xe hay một chiếc xe bò đi tới, nó sẽ đè lên đống bụi ấy;
nếu từ phương Tây có một cỗ xe hay một chiếc xe bò đi tới, nó sẽ đè lên đống bụi ấy;
nếu từ phương Bắc có một cỗ xe hay một chiếc xe bò đi tới, nó sẽ đè lên đống bụi ấy;
nếu từ phương Nam có một cỗ xe hay một chiếc xe bò đi tới, nó cũng sẽ đè lên đống bụi ấy.
Cũng vậy, này Ānanda, khi tỳ-kheo sống quán thân trên thân, thì các pháp ác, bất thiện cũng bị đè lên;
khi sống quán thọ trên các thọ, thì các pháp ác, bất thiện cũng bị đè lên;
khi sống quán tâm trên tâm, thì các pháp ác, bất thiện cũng bị đè lên;
khi sống quán pháp trên các pháp, thì các pháp ác, bất thiện cũng bị đè lên."
Bài thứ mười.
Phẩm Thứ Nhất — Một Pháp.
Tóm tắt phẩm này:
Một pháp và giác chi,
thanh tịnh và hai quả;
Ariṭṭha, Kappina, ngọn đèn,
Vesālī, và Kimila.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.