buppou

Tương Ưng Bộ · SN 54.9

Kinh Vesālī

Vesālīsutta — bài thứ chín

7 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ chín là bài nặng nhất của cả tương ưng, và nó bắt đầu bằng một quyết định của Đức Thế Tôn.

Này các tỳ-kheo, Ta muốn sống một mình nửa tháng.

Trước đó, Ngài đã dạy các tỳ-kheo nhiều cách về sự bất tịnh, tán thán sự bất tịnh, tán thán việc tu tập sự bất tịnh. Rồi Ngài vào nơi vắng vẻ nửa tháng. Trong thời gian ấy, các tỳ-kheo nhàm chán thân này, ghê tởm thân này, và tìm cách giết mình. Mười người một ngày. Hai mươi người. Ba mươi người.

Khi Ngài trở ra và hỏi vì sao tăng chúng ít đi, tôn giả Ānanda kể lại, rồi thêm một lời thỉnh cầu: xin Ngài chỉ dạy một cách khác.

Câu trả lời là bài kinh này. Không phải một lời xin lỗi, không phải một lời giải thích. Chỉ là một pháp khác — và pháp ấy là niệm hơi thở.

Đó là một trong những khoảnh khắc khó đọc nhất trong toàn bộ Tương Ưng Bộ, và kinh kể nó rất lạnh. Nó không bình luận; nó chỉ đếm số người chết, rồi đưa ra một pháp thay thế.

Và cách Đức Thế Tôn giới thiệu pháp thay thế ấy cũng đáng để ý: an tịnh, thù diệu, không có gì để thêm vào, là một trú xứ an lạc. Rồi một ví dụ: bụi bặm cuối mùa hạ, và một cơn mưa lớn giữa lúc trái mùa làm cho chúng biến mất.

Có lẽ đó là lý do bài này có mặt ở đây. Không phải để kể một câu chuyện kinh dị, mà để nói rằng có những lúc pháp cần được đổi, và sự đổi ấy không phải một thất bại.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Hơi Thở (Ānāpānasaṃyutta), tương ưng thứ 54.

Phẩm Thứ Nhất (Ekadhammavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Niệm Hơi Thở.

Kinh Vesālī (Vesālīsutta) — bài thứ chín.


"Tôi nghe như vầy.

Một thời, Đức Thế Tôn trú tại Vesālī, trong rừng Đại Lâm, tại ngôi nhà có nóc nhọn.

Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn dạy các tỳ-kheo nhiều cách về sự bất tịnh: Ngài nói về sự bất tịnh, tán thán sự bất tịnh, tán thán việc tu tập sự bất tịnh.

Rồi Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

Này các tỳ-kheo, Ta muốn sống một mình nửa tháng.

Không ai được đến gần Ta, trừ một người mang thức ăn khất thực.

Vâng, bạch Đức Thế Tôn. — các tỳ-kheo trả lời Đức Thế Tôn, và từ đó không ai đến gần Đức Thế Tôn, trừ một người mang thức ăn khất thực.

Rồi các tỳ-kheo ấy:

Đức Thế Tôn dạy nhiều cách về sự bất tịnh, nói về sự bất tịnh, tán thán sự bất tịnh, tán thán việc tu tập sự bất tịnh — họ sống chuyên tâm thực hành tu tập sự bất tịnh bằng nhiều cách.

Họ nhàm chán, xấu hổ, ghê tởm chính thân này, nên tìm cách giết mình.

Mười tỳ-kheo trong một ngày tự giết mình, hai mươi tỳ-kheo, ba mươi tỳ-kheo trong một ngày tự giết mình.

Rồi Đức Thế Tôn, sau khi nửa tháng ấy qua đi, từ chỗ độc cư đứng dậy, gọi tôn giả Ānanda:

Này Ānanda, sao tăng chúng tỳ-kheo có vẻ ít đi như vậy?

Bạch Đức Thế Tôn, vì Đức Thế Tôn dạy nhiều cách về sự bất tịnh, nói về sự bất tịnh, tán thán sự bất tịnh, tán thán việc tu tập sự bất tịnh — các tỳ-kheo sống chuyên tâm thực hành tu tập sự bất tịnh bằng nhiều cách.

Họ nhàm chán, xấu hổ, ghê tởm chính thân này, nên tìm cách giết mình.

Mười tỳ-kheo trong một ngày tự giết mình, hai mươi tỳ-kheo, ba mươi tỳ-kheo trong một ngày tự giết mình.

Bạch Đức Thế Tôn, lành thay, xin Đức Thế Tôn chỉ dạy một cách khác, để tăng chúng tỳ-kheo này nhờ đó mà được an lập trong sự hiểu biết.

Vậy thì này Ānanda, hãy tập hợp tất cả các tỳ-kheo đang trú gần Vesālī lại ở giảng đường.

Vâng, bạch Đức Thế Tôn. — tôn giả Ānanda trả lời Đức Thế Tôn, rồi tập hợp tất cả các tỳ-kheo đang trú gần Vesālī lại ở giảng đường, và đi đến chỗ Đức Thế Tôn; đến nơi, bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, tăng chúng tỳ-kheo đã tập hợp.

Bạch Đức Thế Tôn, nay là lúc Ngài biết phải làm gì.

Rồi Đức Thế Tôn đi đến giảng đường; đến nơi, ngồi xuống chỗ đã được sắp đặt.

Ngồi xuống, Đức Thế Tôn gọi các tỳ-kheo:

Này các tỳ-kheo, chính định đi cùng với niệm hơi thở này, khi được tu tập, được thực hành nhiều, thì vừa an tịnh, vừa thù diệu, vừa không có gì để thêm vào, vừa là một trú xứ an lạc — và các pháp ác, bất thiện đã sinh khởi thì nó làm cho biến mất, làm cho lắng xuống ngay tại chỗ.

Này các tỳ-kheo, ví như vào tháng cuối mùa hạ, bụi bặm và rác rưởi đã bị cuốn lên, và một cơn mưa lớn giữa lúc trái mùa làm cho chúng biến mất, làm cho chúng lắng xuống ngay tại chỗ;

cũng vậy, này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở này, khi được tu tập, được thực hành nhiều, thì vừa an tịnh, vừa thù diệu, vừa không có gì để thêm vào, vừa là một trú xứ an lạc — và các pháp ác, bất thiện đã sinh khởi thì nó làm cho biến mất, làm cho lắng xuống ngay tại chỗ.

Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì vừa an tịnh, vừa thù diệu, vừa không có gì để thêm vào, vừa là một trú xứ an lạc — và các pháp ác, bất thiện đã sinh khởi thì nó làm cho biến mất, làm cho lắng xuống ngay tại chỗ?

Này các tỳ-kheo, ở đây tỳ-kheo đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào một căn nhà trống, ngồi kiết già, dựng thân thẳng, đặt niệm trước mặt.

Vị ấy thở vào có niệm, thở ra có niệm. Vị ấy học như vầy: Thở vào dài, vị ấy biết mình thở vào dài; thở ra dài, vị ấy biết mình thở ra dài; thở vào ngắn, vị ấy biết mình thở vào ngắn; thở ra ngắn, vị ấy biết mình thở ra ngắn; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở vào; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở ra; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở ra. Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở vào; Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở ra; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở vào; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở ra; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở ra; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở ra. Cảm nhận tâm, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm, ta sẽ thở ra; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở ra; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở ra; Giải thoát tâm, ta sẽ thở vào; Giải thoát tâm, ta sẽ thở ra; Quán vô thường, ta sẽ thở vào; Quán vô thường, ta sẽ thở ra; Quán ly tham, ta sẽ thở vào; Quán ly tham, ta sẽ thở ra; Quán diệt, ta sẽ thở vào; Quán diệt, ta sẽ thở ra;

Quán buông bỏ, ta sẽ thở vào; Quán buông bỏ, ta sẽ thở ra.

Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy thì vừa an tịnh, vừa thù diệu, vừa không có gì để thêm vào, vừa là một trú xứ an lạc — và các pháp ác, bất thiện đã sinh khởi thì nó làm cho biến mất, làm cho lắng xuống ngay tại chỗ."

Bài thứ chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →