Tương Ưng Bộ · SN 22.134
Kinh Koṭṭhika (II)
Dutiyakoṭṭhikasutta — bài thứ chín
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Koṭṭhika (II) (Dutiyakoṭṭhikasutta) giữ nguyên hình thức bài trước, chỉ đổi bộ mặt được hỏi: thay vì vị ngọt, cái hại, lối ra, giờ là sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, cái hại, lối ra.
Này hiền giả, đó là khi người phàm phu không học không hiểu đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc, thọ, tưởng, các hành và thức. Đó được gọi là vô minh.
Ba mươi pháp — năm uẩn × sáu mặt — và cả bài chỉ nói một điều: cái không biết và cái biết không khác nhau ở chỗ biết nhiều hay ít, mà ở chỗ có thấy được cả con đường của một pháp hay không — nó từ đâu đến, nó đi đâu, nó ngọt chỗ nào, nó hại chỗ nào, lối ra ở đâu.
Đọc bài này sau sáu bài trước, ta thấy rõ một điều: kinh không sợ lặp. Nó lặp cho đến khi người nghe tự lặp lại được trong đầu mình.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Vô Minh (Avijjāvagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Koṭṭhika (II) (Dutiyakoṭṭhikasutta) — bài thứ chín.
Một thuở nọ, các vị trưởng lão trú tại Bārāṇasī, trong Vườn Nai, tại Isipatana.
"Này hiền giả Koṭṭhika, người ta nói 'vô minh'.
Vô minh là gì?
Và thế nào được gọi là người vô minh?"
"Này hiền giả, đó là khi người phàm phu không học không hiểu đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc,
của thọ,
của tưởng,
của các hành,
và của thức.
Đó được gọi là vô minh.
Và đó là cách được gọi là người vô minh."
Khi nghe vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākoṭṭhita:
"Này hiền giả Koṭṭhika, người ta nói 'minh'.
Minh là gì?
Và thế nào được gọi là người có minh?"
"Này hiền giả, đó là khi vị thánh đệ tử đã học hiểu đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc,
của thọ,
của tưởng,
của các hành,
và của thức.
Đó được gọi là minh.
Và đó là cách được gọi là người có minh."
Kinh Koṭṭhika (II), bài thứ chín, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.