buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.133

Kinh Koṭṭhika

Koṭṭhikasutta — bài thứ tám

2 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Koṭṭhika (Koṭṭhikasutta) đảo ngược vai: trong sáu bài trước Mahākoṭṭhita hỏi, Xá-lợi-phất trả lời; lần này Xá-lợi-phất hỏi, Mahākoṭṭhita trả lời.

Và Mahākoṭṭhita trả lời đúng bằng nội dung Xá-lợi-phất đã nói ở bài 129–130: vô minh là không hiểu vị ngọt, cái hại và lối ra của năm uẩn; minh là hiểu.

Bài này còn có một chi tiết đáng yêu: hai vị hỏi nhau cả hai câu liền trong một buổi ngồi. Xá-lợi-phất hỏi xong "vô minh là gì", nghe trả lời, rồi hỏi tiếp luôn "vậy minh là gì". Như thể hai người đang cùng nhau ôn lại một bài học, và ai hỏi ai trả lời không quan trọng.

Đó là chỗ phẩm này khác nhiều phẩm khác: những bài ấy không phải là lời dạy từ trên xuống, mà là các vị đệ tử đang trao đổi với nhau — và đó chính là dấu hiệu giáo pháp đã sống được trong lòng người.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Vô Minh (Avijjāvagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Koṭṭhika (Koṭṭhikasutta) — bài thứ tám.


Một thuở nọ, các vị trưởng lão trú tại Bārāṇasī, trong Vườn Nai, tại Isipatana.

Rồi vào buổi chiều, Tôn giả Sāriputta ra khỏi thiền định, đi đến chỗ Tôn giả Mahākoṭṭhita.

Sau khi chào hỏi thăm sức khỏe và ngồi xuống một bên, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākoṭṭhita:

"Này hiền giả Koṭṭhita, người ta nói 'vô minh'.

Vô minh là gì?

Và thế nào được gọi là người vô minh?"

"Này hiền giả, đó là khi người phàm phu không học không hiểu đúng như thật vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc,

của thọ,

của tưởng,

của các hành,

và của thức.

Đó được gọi là vô minh.

Và đó là cách được gọi là người vô minh."

Khi nghe vậy, Tôn giả Sāriputta nói với Tôn giả Mahākoṭṭhita:

"Này hiền giả Koṭṭhita, người ta nói 'minh'.

Minh là gì?

Và thế nào được gọi là người có minh?"

"Này hiền giả, đó là khi vị thánh đệ tử đã học hiểu đúng như thật vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc,

của thọ,

của tưởng,

của các hành,

và của thức.

Đó được gọi là minh.

Và đó là cách được gọi là người có minh."

Kinh Koṭṭhika, bài thứ tám, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →