Tương Ưng Bộ · SN 22.132
Kinh Sự Sinh Khởi (II)
Dutiyasamudayasutta — bài thứ bảy
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Kinh Sự Sinh Khởi (II) (Dutiyasamudayasutta) khép bộ sáu bằng tấm gương cuối: cùng năm mặt ấy, người có minh.
Này hiền giả, đó là khi vị thánh đệ tử đã học hiểu đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc, thọ, tưởng, các hành và thức. Đó được gọi là minh.
Sáu bài, ba cặp, một ý: vô minh và minh không phải hai kho kiến thức khác nhau, mà là cùng một cái được thấy hoặc không được thấy.
Và nếu phải tóm phẩm này trong một câu, thì đó là câu mà các bài ấy lặp đi lặp lại: cái mình đang bám vào có năm mặt — sinh khởi, chấm dứt, ngọt, hại, lối ra. Thấy đủ năm mặt là minh. Không thấy đủ là vô minh. Không có gì khác.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.
Phẩm Vô Minh (Avijjāvagga) — phẩm thứ tám của Tương Ưng Uẩn.
Kinh Sự Sinh Khởi (II) (Dutiyasamudayasutta) — bài thứ bảy.
Một thuở nọ, Tôn giả Sāriputta và Tôn giả Mahākoṭṭhita trú tại Bārāṇasī, trong Vườn Nai, tại Isipatana.
Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Sāriputta:
"Này hiền giả Sāriputta, người ta nói 'minh'.
Minh là gì?
Và thế nào được gọi là người có minh?"
"Này hiền giả, đó là khi vị thánh đệ tử đã học hiểu đúng như thật sự sinh khởi, sự chấm dứt, vị ngọt, cái hại và lối ra của sắc,
của thọ,
của tưởng,
của các hành,
và của thức.
Đó được gọi là minh.
Và đó là cách được gọi là người có minh."
Kinh Sự Sinh Khởi (II), bài thứ bảy, đến đây là hết.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.