Tương Ưng Bộ · SN 34.21
Kinh Lấy An Trú Làm Nền — Sự Thuần Thục
Ṭhitimūlakakallitasutta — bài thứ hai mươi mốt
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài này vẫn thuộc nhóm Lấy An Trú Làm Nền, so với sự thuần thục (kallita).
Này các tỳ-kheo, trong số ấy, người hành thiền nào, trong định, khéo về an trú và cũng khéo về sự thuần thục — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền.
Hai thứ được đem ra so ở đây là an trú (ṭhiti) — an trú — khả năng ở lại trong tầng thiền đã bước vào — và sự thuần thục (kallita) — sự thuần thục — khả năng làm cho tâm dẻo dai, dùng được.
Bốn hạng ấy là bốn tổ hợp của hai kỹ năng: có cái này không có cái kia, không có cả hai, có cả hai. Đây là cách bộ kinh dạy bằng bảng chứ không bằng câu chuyện.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Thiền (Jhānasaṃyutta), tương ưng thứ 34.
Phẩm Thiền (Jhānavagga) — phẩm thứ nhất của Tương Ưng Thiền.
Kinh Lấy An Trú Làm Nền — Sự Thuần Thục (Ṭhitimūlakakallitasutta) — bài thứ hai mươi mốt.
"Tại Sāvatthī.
Này các tỳ-kheo, có bốn hạng người hành thiền.
Bốn hạng ấy là gì?
Này các tỳ-kheo, ở đây, một số người hành thiền, trong định, khéo về an trú nhưng không khéo về sự thuần thục.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, khéo về sự thuần thục nhưng không khéo về an trú.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, không khéo về an trú và cũng không khéo về sự thuần thục.
Này các tỳ-kheo, ở đây, lại một số người hành thiền, trong định, khéo về an trú và cũng khéo về sự thuần thục.
Này các tỳ-kheo, trong số ấy, người hành thiền nào, trong định, khéo về an trú và cũng khéo về sự thuần thục — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền.
Này các tỳ-kheo, ví như từ con bò có sữa, từ sữa có sữa chua, từ sữa chua có bơ tươi, từ bơ tươi có bơ lỏng, từ bơ lỏng có tinh chất bơ — trong số ấy, tinh chất bơ được gọi là tối thắng;
Cũng vậy, này các tỳ-kheo, người hành thiền nào, trong định, khéo về an trú và cũng khéo về sự thuần thục — người ấy đứng đầu, tối thắng, giải thoát, cao thượng, thù thắng nhất trong bốn hạng người hành thiền."
Bài thứ hai mươi mốt.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.