buppou

Tương Ưng Bộ · SN 54.19

Kinh Liễu Tri Con Đường Dài

Addhānapariññāsutta — bài thứ mười chín

3 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài thứ mười chín nêu mục tiêu thứ ba, và nó là mục tiêu lạ nhất.

Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập, được thực hành nhiều thì đưa đến sự liễu tri toàn bộ con đường dài.

Con đường dài là chữ dùng cho vòng sinh tử được nhìn như một quãng đường. Và liễu tri không phải hiểu biết về nó; nó là biết trọn, đến tận cùng, không còn gì ở phía sau.

Trong ba mục tiêu của loạt này, đây là mục tiêu duy nhất không nói về một thứ được loại bỏ. Kiết sử bị đoạn, khuynh hướng ngủ ngầm bị nhổ, còn con đường dài thì được liễu tri — được biết hết.

Sự khác biệt ấy có lẽ quan trọng. Hai mục tiêu trước là những việc làm trong tâm; mục tiêu này là một cái nhìn, và cái nhìn ấy bao trùm tất cả những gì đã xảy ra.

Bài kinh vẫn chỉ hai khóa. Nhưng ba bài cạnh nhau, đọc liền, cho thấy một sự tiến dần: từ cái bị cắt, đến cái bị nhổ, đến cái được thấy trọn.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Hơi Thở (Ānāpānasaṃyutta), tương ưng thứ 54.

Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Niệm Hơi Thở.

Kinh Liễu Tri Con Đường Dài (Addhānapariññāsutta) — bài thứ mười chín.


"Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập, được thực hành nhiều thì đưa đến sự liễu tri toàn bộ con đường dài.

Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì đưa đến sự liễu tri toàn bộ con đường dài?

Này các tỳ-kheo, ở đây tỳ-kheo đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào một căn nhà trống, ngồi kiết già, dựng thân thẳng, đặt niệm trước mặt. Vị ấy thở vào có niệm, thở ra có niệm. Vị ấy học như vầy: Thở vào dài, vị ấy biết mình thở vào dài; thở ra dài, vị ấy biết mình thở ra dài; thở vào ngắn, vị ấy biết mình thở vào ngắn; thở ra ngắn, vị ấy biết mình thở ra ngắn; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở vào; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở ra; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở ra. Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở vào; Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở ra; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở vào; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở ra; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở ra; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở ra. Cảm nhận tâm, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm, ta sẽ thở ra; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở ra; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở ra; Giải thoát tâm, ta sẽ thở vào; Giải thoát tâm, ta sẽ thở ra; Quán vô thường, ta sẽ thở vào; Quán vô thường, ta sẽ thở ra; Quán ly tham, ta sẽ thở vào; Quán ly tham, ta sẽ thở ra; Quán diệt, ta sẽ thở vào; Quán diệt, ta sẽ thở ra; Quán buông bỏ, ta sẽ thở vào; Quán buông bỏ, ta sẽ thở ra.

Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy thì đưa đến sự liễu tri toàn bộ con đường dài."

Bài thứ mười chín.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →