Tương Ưng Bộ · SN 54.18
Kinh Nhổ Tận Gốc Khuynh Hướng Ngủ Ngầm
Anusayasamugghātasutta — bài thứ mười tám
Giới thiệu bài kinh
Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.
Bài thứ mười tám nêu mục tiêu thứ hai, và nó là mục tiêu sâu nhất trong ba mục tiêu.
Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập, được thực hành nhiều thì đưa đến sự nhổ tận gốc các khuynh hướng ngủ ngầm.
Khuynh hướng ngủ ngầm là chữ mà kinh dùng cho những gì nằm dưới bề mặt và không cần được nghĩ đến mới có mặt. Chúng không phải những gì ta đang cảm; chúng là những gì sẽ cảm khi có điều kiện.
Vì thế mà nhổ tận gốc là một hình ảnh rất chính xác. Kiết sử có thể bị trói buộc; khuynh hướng ngủ ngầm thì phải bị nhổ, và nhổ cả rễ.
Bài này cũng chỉ có hai khóa trong bản Pali, và cũng dựa vào sự lặp. Nhưng chỗ nó đứng trong loạt lại làm cho nó nặng hơn: nó nằm giữa một mục tiêu quen thuộc và một mục tiêu rất xa, và nó là chỗ khó nhất trong ba.
Không có lời giải thích nào được thêm vào. Đó là cách của ba bài cuối: nêu tên, rồi im.
Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Niệm Hơi Thở (Ānāpānasaṃyutta), tương ưng thứ 54.
Phẩm Thứ Hai (Dutiyavagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Niệm Hơi Thở.
Kinh Nhổ Tận Gốc Khuynh Hướng Ngủ Ngầm (Anusayasamugghātasutta) — bài thứ mười tám.
"Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập, được thực hành nhiều thì đưa đến sự nhổ tận gốc các khuynh hướng ngủ ngầm.
Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập thế nào, được thực hành nhiều thế nào thì đưa đến sự nhổ tận gốc các khuynh hướng ngủ ngầm?
Này các tỳ-kheo, ở đây tỳ-kheo đi vào rừng, hoặc đến gốc cây, hoặc vào một căn nhà trống, ngồi kiết già, dựng thân thẳng, đặt niệm trước mặt. Vị ấy thở vào có niệm, thở ra có niệm. Vị ấy học như vầy: Thở vào dài, vị ấy biết mình thở vào dài; thở ra dài, vị ấy biết mình thở ra dài; thở vào ngắn, vị ấy biết mình thở vào ngắn; thở ra ngắn, vị ấy biết mình thở ra ngắn; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở vào; Cảm nhận toàn thân, ta sẽ thở ra; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu thân hành, ta sẽ thở ra. Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở vào; Cảm nhận hỷ, ta sẽ thở ra; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở vào; Cảm nhận lạc, ta sẽ thở ra; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm hành, ta sẽ thở ra; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở vào; Làm lắng dịu tâm hành, ta sẽ thở ra. Cảm nhận tâm, ta sẽ thở vào; Cảm nhận tâm, ta sẽ thở ra; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm vui mừng, ta sẽ thở ra; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở vào; Làm cho tâm định tĩnh, ta sẽ thở ra; Giải thoát tâm, ta sẽ thở vào; Giải thoát tâm, ta sẽ thở ra; Quán vô thường, ta sẽ thở vào; Quán vô thường, ta sẽ thở ra; Quán ly tham, ta sẽ thở vào; Quán ly tham, ta sẽ thở ra; Quán diệt, ta sẽ thở vào; Quán diệt, ta sẽ thở ra; Quán buông bỏ, ta sẽ thở vào; Quán buông bỏ, ta sẽ thở ra.
Này các tỳ-kheo, định đi cùng với niệm hơi thở được tu tập như vậy, được thực hành nhiều như vậy thì đưa đến sự nhổ tận gốc các khuynh hướng ngủ ngầm."
Bài thứ mười tám.
Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.