buppou

Tương Ưng Bộ · SN 23.11

Kinh Ma (Hai)

Mārasutta — bài thứ mười một

1 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Bài này hỏi một chữ: Ma (māra).

Bạch Đức Thế Tôn, Ma là gì?

Câu trả lời luôn cùng một khuôn: sắc là Ma, thọ là Ma, tưởng là Ma, hành là Ma, thức là Ma. Rồi công thức quen thuộc — nhàm chán, ly tham, giải thoát, tuệ khởi lên: đã giải thoát.

Nghĩa của chữ ấy: kẻ giết, kẻ cám dỗ, cái làm chết.

Chữ này là chữ mở đầu của cả phẩm, và cũng là chữ nặng nhất: nó gộp cả cái chết, cái cám dỗ và cái làm hư hoại vào một tiếng.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Rādha (Rādhasaṃyutta), tương ưng thứ 23.

Phẩm Ma (Hai) (Dutiyamāravagga) — phẩm thứ hai của Tương Ưng Rādha.

Kinh Ma (Hai) (Mārasutta) — bài thứ mười một.


"Tại Sāvatthī.

Ngồi một bên, Tôn giả Rādha bạch Đức Thế Tôn:

Bạch Đức Thế Tôn, người ta nói Ma, Ma.

Bạch Đức Thế Tôn, Ma là gì?

Này Rādha, sắc là Ma, thọ là Ma, tưởng là Ma, hành là Ma, thức là Ma.

Thấy như vậy, này Rādha, bậc thánh đệ tử đã nghe nhiều nhàm chán nơi sắc, nhàm chán nơi thọ, nhàm chán nơi tưởng, nhàm chán nơi hành, nhàm chán nơi thức.

Nhàm chán nên ly tham; ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, tuệ khởi lên: đã giải thoát.

Vị ấy biết: sinh đã tận, phạm hạnh đã sống xong, điều cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa."

Bài thứ nhất.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →