buppou

Tương Ưng Bộ · SN 22.60

Kinh Mahāli

Mahālisutta — bài thứ tám

6 phút đọc · đối chiếu Pali trên SuttaCentral

Giới thiệu bài kinh

Bối cảnh và những chỗ dễ hiểu sai. Nên đọc nếu đây là lần đầu.

Kinh Mahāli (Mahālisutta) là một cuộc đối thoại có tính tranh luận, và nó trả lời gọn một học thuyết đương thời.

Bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa nói rằng: "Không có nhân, không có duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh. Chúng sinh nhiễm ô không nhân không duyên. Không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh. Chúng sinh thanh tịnh không nhân không duyên."

Này Mahāli, có nhân, có duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh. Có nhân, có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh.

Rồi Đức Thế Tôn giải thích cái "nhân duyên" ấy bằng một lập luận rất đẹp, dựa trên vị ngọt và cái đau của từng uẩn:

Nếu sắc hoàn toàn là khổ, thấm đẫm khổ, không chút lạc — chúng sinh đã không thích thú sắc. Nhưng vì sắc có phần lạc, nên chúng sinh thích, bị cuốn vào, và nhiễm ô. Đó là nhân duyên của sự nhiễm ô.

Và ngược lại: nếu sắc hoàn toàn là lạc — chúng sinh đã không nhàm chán. Nhưng vì sắc có phần khổ, nên chúng sinh nhàm chán, ly tham, và thanh tịnh. Đó là nhân duyên của sự thanh tịnh.

Câu ấy đáng đọc chậm: chính chỗ đau trong mỗi uẩn là chỗ mà sự giải thoát bắt đầu. Không có chỗ đau, không có lối ra.

Tương Ưng Bộ (Saṃyutta Nikāya) — bộ kinh thứ ba trong Kinh tạng Pali. Đây là Tương Ưng Uẩn (Khandhasaṃyutta), tương ưng thứ 22.

Phẩm Dính Mắc (Upayavagga) — phẩm thứ sáu của Tương Ưng Uẩn.

Kinh Mahāli (Mahālisutta) — bài thứ tám.


Tôi nghe như vầy.

Một thuở nọ, Đức Thế Tôn trú tại Vesālī, trong rừng Đại Lâm, tại giảng đường có mái nhọn.

Bấy giờ Mahāli, người Licchavi, đi đến chỗ Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên, và bạch Ngài:

"Bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa nói như vầy:

'Không có nhân, không có duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh.

Chúng sinh nhiễm ô không nhân, không duyên.

Không có nhân, không có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh.

Chúng sinh thanh tịnh không nhân, không duyên.'

Đức Thế Tôn nói gì về điều ấy?"

"Này Mahāli, có nhân, có duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh.

Chúng sinh nhiễm ô có nhân, có duyên.

Có nhân, có duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh.

Chúng sinh thanh tịnh có nhân, có duyên."

"Bạch Thế Tôn, nhân và duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh là gì?

Chúng sinh nhiễm ô có nhân, có duyên như thế nào?"

"Này Mahāli, nếu sắc hoàn toàn là khổ, thấm đẫm khổ, đắm chìm trong khổ, không có phần lạc — thì chúng sinh đã không thích thú sắc.

Nhưng vì sắc có phần lạc, thấm đẫm lạc, không có phần khổ — nên chúng sinh thích thú sắc.

Vì thích thú nên bị cuốn vào, vì bị cuốn vào nên nhiễm ô.

Đó là nhân và duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh.

Đó là cách chúng sinh nhiễm ô có nhân, có duyên.

Này Mahāli, nếu thọ hoàn toàn là khổ, thấm đẫm khổ, đắm chìm trong khổ, không có phần lạc — thì chúng sinh đã không thích thú thọ.

Nhưng vì thọ có phần lạc, thấm đẫm lạc, không có phần khổ — nên chúng sinh thích thú thọ.

Vì thích thú nên bị cuốn vào, vì bị cuốn vào nên nhiễm ô.

Đó là nhân và duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh.

Đó là cách chúng sinh nhiễm ô có nhân, có duyên.

Này Mahāli, nếu tưởng hoàn toàn là khổ — chúng sinh đã không thích thú tưởng. Nhưng vì tưởng có phần lạc — nên chúng sinh thích thú tưởng, vì thích thú nên bị cuốn vào, vì bị cuốn vào nên nhiễm ô.

Này Mahāli, nếu các hành hoàn toàn là khổ, thấm đẫm khổ, đắm chìm trong khổ, không có phần lạc — thì chúng sinh đã không thích thú các hành.

Nhưng vì các hành có phần lạc, thấm đẫm lạc, không có phần khổ — nên chúng sinh thích thú các hành.

Vì thích thú nên bị cuốn vào, vì bị cuốn vào nên nhiễm ô.

Đó là nhân và duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh.

Đó là cách chúng sinh nhiễm ô có nhân, có duyên.

Và này Mahāli, chừng nào còn thích thú năm uẩn này, chừng ấy còn bị cuốn vào năm uẩn này.

Đó là nhân duyên chung cho mọi uẩn.

"Này Mahāli, nếu thức hoàn toàn là khổ, thấm đẫm khổ, đắm chìm trong khổ, không có phần lạc — thì chúng sinh đã không thích thú thức.

Nhưng vì thức có phần lạc, thấm đẫm lạc, không có phần khổ — nên chúng sinh thích thú thức.

Vì thích thú nên bị cuốn vào, vì bị cuốn vào nên nhiễm ô.

Đó là nhân và duyên cho sự nhiễm ô của chúng sinh.

Đó là cách chúng sinh nhiễm ô có nhân, có duyên."

"Bạch Thế Tôn, nhân và duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh là gì?

Chúng sinh thanh tịnh có nhân, có duyên như thế nào?"

"Này Mahāli, nếu sắc hoàn toàn là lạc, thấm đẫm lạc, đắm chìm trong lạc, không có phần khổ — thì chúng sinh đã không nhàm chán sắc.

Nhưng vì sắc có phần khổ, thấm đẫm khổ, không có phần lạc — nên chúng sinh nhàm chán sắc.

Nhàm chán nên ly tham; ly tham nên được thanh tịnh.

Đó là nhân và duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh.

Đó là cách chúng sinh thanh tịnh có nhân, có duyên.

Này Mahāli, nếu thọ hoàn toàn là lạc — chúng sinh đã không nhàm chán thọ. Nhưng vì thọ có phần khổ — nên chúng sinh nhàm chán thọ, nhàm chán nên ly tham, ly tham nên được thanh tịnh.

Này Mahāli, nếu tưởng hoàn toàn là lạc, thấm đẫm lạc, đắm chìm trong lạc, không có phần khổ — thì chúng sinh đã không nhàm chán tưởng.

Nhưng vì tưởng có phần khổ — nên chúng sinh nhàm chán tưởng, nhàm chán nên ly tham, ly tham nên được thanh tịnh.

Này Mahāli, nếu các hành hoàn toàn là lạc — chúng sinh đã không nhàm chán các hành.

Nhưng vì các hành có phần khổ — nên chúng sinh nhàm chán các hành, nhàm chán nên ly tham, ly tham nên được thanh tịnh.

Này Mahāli, nếu thức hoàn toàn là lạc, thấm đẫm lạc, đắm chìm trong lạc, không có phần khổ — thì chúng sinh đã không nhàm chán thức.

Nhưng vì thức có phần khổ, thấm đẫm khổ, không có phần lạc — nên chúng sinh nhàm chán thức.

Nhàm chán nên ly tham; ly tham nên được thanh tịnh. Đó là nhân và duyên cho sự thanh tịnh của chúng sinh.

Đó là cách chúng sinh thanh tịnh có nhân, có duyên." Kinh Mahāli, bài thứ tám, đến đây là hết.

Bản dịch tiếng Việt hiện đại, dịch từ nguyên bản Pali, đối chiếu bản Bhikkhu Sujato trên SuttaCentral. Mọi chỗ phải chọn giữa hai cách hiểu đều được ghi trong chú thích.

Về phương pháp dịch →